Hiển thị các bài đăng có nhãn Đàm đạo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đàm đạo. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 17 tháng 3, 2013

George the Baptist

Tôi sẽ nói với các bạn về một linh hồn rất thông thái đã đến với trái đất để gửi đến con người những tin nhắn của mình qua hình thức kịch trào phúng, nhưng lại rất nghiêm túc (even Aristotle had his comments) đó là George Carlin; linh hồn này đã 1 lần đến trái đất với tên gọi là John the Baptist, người đã mất vào năm 36 trước Công nguyên.

Linh hồn của Carlin cũng đến từ hệ thống sao Pleiades. Những cuộc sống khác của linh hồn này trên trái đất là: Socrates, Copernicus, Miguel de Cervantes, Jules Verne.



Thứ Hai, 11 tháng 3, 2013

Lời của Alexandre Đại Đế


"Ta muốn chính các bác sĩ giỏi nhất khiêng quan tài của ta để chứng tỏ rằng, đối diện với cái chết, chính họ cũng không có quyền năng chữa lành bệnh. Ta muốn mặt đất được phủ đầy kho báu của ta để mọi người hiểu được rằng những tài sản vật chất thu gom được tại đây sẽ ở lại trên mặt đất này. Ta muốn hai bàn tay ta được thò ra ngoài quan tài và đong đưa theo gió để cho dân chúng thấy rằng chúng ta đến cõi đời này với hai bàn tay trắng, và chúng ta sẽ ra đi cũng với hai bàn tay trắng khi chúng ta đã xài hết kho tàng quý giá nhất của mỗi chúng ta là thời gian!”


Thứ Ba, 5 tháng 3, 2013

Những lời thông thái từ một người sống sót trong Holocaust

Ban NÊN xem video này trong 1 phút! – Những lời thông thái tốt đẹp nhất mà bạn từng nghe từ một người sống sót sau thảm họa Holocaust: Alice Herz-Sommer.

Bà đã 109 tuổi, trong thời gian thế chiến thứ II bà đã ở trong một trại tập trung tại Terezin và hiện ĐANG SỐNG tại LonDon.


Vào tháng 12/2011, phóng viên Benard Hiller đã phỏng vấn bà. Khi được hỏi về bí quyết để có tâm trạng tốt bà trả lời: “Lạc quan,” “và luôn hướng tới điều tốt, một cuộc sống tốt đẹp. Bạn nên biết ơn cuộc sống mà mình đang có. Bất cứ điều gì bạn thấy đều tốt đẹp.”


Và cuối cùng: “Tôi biết những điều tệ hại, nhưng tôi luôn tìm kiếm điều tốt đẹp.”


Một tâm trí tích cực sẽ dẫn tới một cuộc sống tích cực.

You HAVE to watch this 1 minute video! - The most powerful wisdom you will ever hear - by 109 year old Holocaust survivor Alice Herz-Sommer. 
Alice Herz-Sommer is 109, was in a concentration camp in Terezin, and is STILL LIVING, in London. 

She was interviewed by Bernard Hiller in December 2011. When she's asked about the secret to feeling good. “Optimism,” she said, “and looking for the good. Life is beautiful. You have to be thankful that we are living.. Wherever you look is beauty.”

And lastly: “I know about the bad things, but I look for the good things.”

Positive Minds Live Positive Lives:


Chủ Nhật, 3 tháng 3, 2013

Tự truyện của Roark Self


Đây là 1 câu chuyện thật của tôi với những suy nghĩ và trải nghiệm hoàn toàn thật của tôi. Tôi không nghĩ là tất cả sẽ hiểu hết ý mà tôi muốn chuyển tải. Chỉ một số người, nhưng từng đó là đủ. Có một cuộc chiến trong câu chuyện của tôi, tôi đã thất bại, khi các bạn đọc hết các bạn sẽ hiểu. Tôi hi vọng là các bạn sẽ chiến đấu tiếp cuộc chiến đó. Và nếu ai đó có lòng tốt chia sẻ chuyện này, tôi xin cảm ơn:

Anh ngồi đó, hơi lơ mơ vì đã uống quá nhiều rượu. Anh là Tuấn, 21 tuổi Sinh viên năm cuối của một trường đại học quốc tế trên địa bàn Hà Nội. Anh nghe bảo rằng đây là ngôi trường có học phí đắt nhất Việt Nam và sẽ trao cho sinh viên bằng cấp của đại học UK. Anh chẳng quan tâm, đó là thứ mà anh đã rất quan tâm cách đây 1 năm trở về trước. Anh đoán là xã hội này chắc hẳn cũng chú ý đến cái này lắm, danh tiếng là đắt nhất mà, tấm bằng UK mà rồi bao nhiêu cơ hội thực tập ở các công ty lớn của quốc tế. Anh thầm cười, nhiều sinh viên Việt Nam chắc là ước ao những cơ hội thế này lắm. Rồi anh tự giễu mình là mình đã tự chân đạp bỏ nó, khi chỉ còn 3 tháng nữa là kết thúc khóa học. Đó cũng là lý do hôm nay anh ngồi đây, trong một quán nhậu giữa lòng Hà Nội, ở một bữa tiệc do những thằng bạn thân chí hữu của anh tổ chức chia tay anh. À đúng, nói chia tay là vì không hẳn anh chỉ bỏ đại học mà còn quyết định ngày kia sẽ lên đường đi lang thang qua các nước châu Á, có lẽ là 1 năm hay 2 năm. Rượu hôm nay vào rất nhẹ, nên anh cứ vẫy tay gọi thêm rượu liên tục.

Anh nhìn xung quanh, chỉ còn bàn anh là đang ngồi, cả một quán nhậu đông đúc chen nhau từng tí một lúc anh mới vào giờ trống rỗng. Thật sự thì anh không hiểu tại sao ăn uống mà cứ phải khổ sở chen chúc nhau thế, những rồi anh bỏ qua, điều đó cũng chẳng làm anh khó chịu. Cũng chẳng biết từ bao giờ mà trong nội tâm anh luôn giữ được sự bình yên đến lạ, sự mát mẻ và vui vẻ trong tâm hồn. Anh thầm vui vì đó là dấu hiệu cho những biến chuyển vể mặt tâm linh và sự tăng cường trí tuệ của anh. Nó giúp anh giữ được sự bình tĩnh và những suy nghĩ tích cực trong mọi tình huống. Anh không bị hoàn cảnh xung quanh chi phối cảm xúc mà có thể tự định đoạt cảm xúc của mình. Anh quay lại với những khuôn mặt xung quanh anh, những người bạn thân từ hồi cấp 3 đã đi cùng với anh 6, 7 năm trời. Anh yêu họ đến lạ, dù chưa bao giờ anh thể hiện ra. Anh cố gắng nói với họ, với chất giọng có lẽ hơi cao dù anh không chủ ý làm thế:

- Bọn mày phải cố gắng suy nghĩ bằng chính đầu óc của bọn mày, cố gắng giành lại quyền kiểm soát tâm trí bọn mày. Tao đã luôn từng giây từng phút cố gắng làm điều đó nửa năm nay. Tao đã luôn cố gắng đặt lại câu hỏi cho những tư tưởng, ý thức hệ, kiến thức vân vân đã được tiêm vào đầu tao 20 năm nay.

Chất giọng quyết liệt của anh làm một bạn gái bên cạnh anh hơi sợ, cô nghĩ là anh bức xúc nhưng anh hoàn toàn bình thản. Anh chỉ là đang cố gắng giúp bạn anh ra khỏi trạng thái xác sống. Anh đã từng là một con xác sống đội lốt một con người, làm tất cả mọi việc và sống theo bản năng, sống theo thói quen, sống theo những suy nghĩ đã bị định hình bởi các ý thức hệ, truyền thống, các hệ tư tưởng chủ nghĩa mà xã hội, gia đình và giáo dục đã lập trình trong đầu óc anh từ khi còn nhỏ đến bây giờ. Và anh biết rằng hầu như mọi người trong xã hội này đều đang là xác sông, đang ngủ say mà họ không biết. Họ cứ nghĩ rằng họ có đầu óc nhưng sự thật thì đầu óc họ đã bị chiếm đoạt lâu rồi, đã thoát khỏi sự khống chế của họ lâu rồi. Anh đã rất buồn khi nhìn những đưa bé, hay những bà bầu vì anh biết những đưa trẻ kia sau này rồi sẽ cũng trở thành xác sống nếu không có một cuộc cách mạng toàn triệt trong giáo dục và tư tưởng của xã hội. Rồi anh tự cảm thấy hạnh phúc, một hạnh phúc dâng trào vì anh đang dần cởi bỏ lớp xác sống đó. Anh phá hủy đến tận gốc rễ những tư tưởng hay thói quen suy nghĩ cố hữu trong đầu anh. Từ lâu anh đã không hề tin vào bất cứ tư tưởng, chủ nghĩa quốc gia hay đảng phái nào. Anh đặt lại những hệ tư tưởng cho chính anh, trở lại nhân diện đích thực của một con người. “Tôi tư duy, tôi tồn tại” Descarte đã nói như thế. Anh cố gắng trở lại là một con người với những khẳ năng tư duy đầy đủ.


Anh tiếp tục: 
- Bọn mày có thể đem trách nhiệm ra để chỉ trích tao. Tao phải có trách nhiệm với bố mẹ. Nhưng bọn mày đã lầm. Bởi vì cái xã hội này đã rao giảng về trách nhiệm quá lâu và quá nhiều. Cả xã hội xem trách nhiệm là thứ thiêng liêng nhất. Còn với tao, trách nhiệm là thứ phản tình yêu nhất. Trách nhiệm giết chết tình yêu. Vì sao bố mẹ đòi hỏi trách nhiệm ở con cái? Vì họ nghĩ rằng con cái không đủ tình yêu dành cho họ, nên trách nhiệm là cần thiết để giữ con cái lại với họ. Nếu họ nghĩ rằng tình yêu là đủ nhiều thì bất kỳ sự ràng buộc nào là cần thiết nữa. Vì sao quốc gia đòi hỏi trách nhiệm ở công dân? Tất nhiên là vì họ nghĩ công dân sẽ khoogn hy sinh cho đất nước, sẽ không đủ tình yêu dành cho đất nước. Nơi nào vắng bóng tình yêu thì trách nhiệm xuất hiện. Như bong tối và ánh sáng. Nơi nào thiếu ánh sáng sẽ có bong tối. Thế nên tao bảo là trách nhiệm là thứ phản tình yêu nhất. Tao yêu bố mẹ tao rất nhiều thế nên trahcs nhiệm không thể xuất hiện ở đây được
Anh biết là họ sẽ không hiểu anh. Hoặc là hiểu nhưng chỉ bằng lý trí. Thực tế anh nghĩ rất ít người trong xã hội này hiểu được anh. Hiểu được những suy nghĩa trái đời và nổi loạn của anh. Vì anh biết mọi lời rao giảng là vô nghĩa, chỉ có tự tìm ra mới là trí tuệ đích thực. Con người sẽ không thể hiểu bất cứ kiến thức hay danh ngôn nào trừ phi họ trực tiếp thể nghiệm nó, có những kinh nghiệm sâu sắc về nó. Lúc đó những kiến thức như thế sẽ trở thành một phần tất yêu của khối óc họ. Điều này đòi hỏi con người sự tự quan sát sâu sắc chính mình và xung quanh để dẫn đến sự suy ngẫm. Sự suy ngẫm khác với suy nghĩ, suy ngẫm đòi hỏi một quá trình tư duy lâu dài và tích lũy nhiều kinh nghiệm. Suy nghĩ chỉ là một tư tưởng nổi lên bất chợt. Thế nên anh biết là họ sẽ không thể hiểu cái nghĩa mà anh đang ám chỉ, họ chỉ hiểu câu chữ thôi. Nhưng anh vẫn nói bởi vì anh hy vọng họ có thể nhớ nó, để, nếu như họ may mắn, thì một lúc nào đó trong cuộc đời họ sẽ nhớ lại và suy ngẫm ra. Anh ôm một niềm hy vọng nho nhỏ như thế. Và anh chỉ nói như thế, anh chỉ tập trung vào việc nói. Anh không quan tâm đến khán giả. Anh không quan tâm bạn anh đồng ý hay phản bác hay dửng dưng. Đã từ lâu anh làm mọi việc chỉ về phần mình, anh làm chỉ vì anh thích và không hề quan tâm đến sự phản ứng của người khác. Anh để cho mọi người có sự tự do trong hành động của họ. Anh không làm để lôi kéo sự đồng ý hay bất cứ một phản ứng nào khác từ phía người khác. Anh buộc họ phải đứng một mình, tự suy xét một mình, chứ không phải là dùng giọng điệu lôi kéo hay khích bác họ. Nếu thế thì quá dễ, lôi kéo một con người là quá dễ, vì đầu óc họ đã được lập trình sẵn, và anh chỉ cần nói những thứ nghe có vẻ tương hợp với những hệ tư tưởng của họ và họ sẽ phát điên lên đi theo anh ngay. Đó là cách thức mà tâm lý đám đông hoạt động, con người đứng thành đám đông, suy nghĩ theo một hướng đã được lập trình mà thiếu sự dũng cảm để tự suy xét một mình. Con người hiện nay đã quá thiếu sự chính trực để có thể đứng một mình., quá thiếu đầu óc để có thể suy xét một vấn đề. Thế nên Hít le đã bảo rằng nếu bạn nói dối đủ nhiều, người khác sẽ tin đó là sự thật.

Anh quay sang nói chuyện vơi một cậu bạn. Cậu ta kể rằng cậu ta không dám nói với bố mẹ số tiền cậu ta nợ lô đề. Cậu ta là một sinh viên Bách khoa. Anh nghe và có thể hiểu. VÌ anh đã ngắm nhìn những người trong xã hội này quá nhiều rồi, ai cũng tràn đầy những nỗi sợ hãi và lo lắng. Những nỗi sợ hãi và lo lắng đã được lập trình. Họ thậm chí không nhận thức được điều đó mà cứ chìm sâu vào lo lắng và sợ hãi. Họ sợ rằng người khác sẽ nghĩ gì đó về mình. Họ sợ là ai đó sẽ vượt lên họ ở một khía cạnh nào đó. Cậu bạn Bách khoa kia thì sợ bố mẹ. Tất nhiên là cậu ta sẽ sợ rồi, anh biết điều đó. Vì các bậc cha mẹ này đã nuôi nấng con cái họ trong cái gọng kềm phần thưởng và sự trừng phạt. À không chỉ gia đình, cả xã hội và nền giáo dục này đều như thế. Các bậc giáo viên bao giờ cũng tôn vinh và dành phần thưởng cho những học sinh điểm số cao, rồi đánh trật những học sinh điểm số thấp. Điều này không phải là tạo ra sự gian dối trong thi cử và việc chạy đua điểm số sao. Điều này không phải là sẽ tạo ra việc học mà chỉ hướng đến điểm số sao, học không phải vì cái gì khác mà chỉ vì điểm số. Và vì xã hội cứ tôn vinh những người giàu và thành đạt, báo chí suốt ngày rống lên và bợ địt những người ấy nên cả xã hội chạy theo đồng tiền sao, thay vì theo đuổi một cuộc sống hạnh phúc và mài giũa trí tuệ của riêng mình. Anh thầm chửi “Mẹ kiếp” với một niềm căm thù to lớn với cái phương thức giáo dục và xã hội vận hành. Anh, một người được hưởng nền giáo dục UK, một nền giáo dục được xem là tiên tiến nhất trên thế giới, cũng nghĩ tất cả đều ngu ngốc như nhau. Không phải là các bạn anh ở đại học cũng đang chạy đua sao, chạy đua thực tập ở công ty nổi tiếng, chạy đua dối trá trong các bài luận, chạy đua để học thạc sĩ càng sớm càng tốt. Anh cũng từng như thế, anh đã từng là một kẻ chạy theo tất cả những cái đó, để kiếm một công việc ngon lành, lương cao. Anh đã từng theo học ACCA rồi Gmat. Anh nhớ là một giáo sư đáng kính của trường anh, người là giám đốc chương trình học, đã từng bảo anh rằng nên chọn một trường có chữ London vì ở Việt nam nó nghe có vẻ sang hơn. Ngày xưa anh từng nghĩ ông ta đáng kính, bây giờ anh nghĩ rằng nên bỏ dấu sắc và thêm chữ “h” vào giữa chữ kính. Anh nhìn cậu bạn kia, cậu bạn học ở Bách khoa. Anh nhớ đến trường Bách khoa, nhớ đến báo chí một thời từng xôn xao ca tụng một ả giáo viên nào đấy dạy Bách khoa, đẹp mã và đạt tiến sĩ năm hai mấy tuổi anh không nhỡ rõ. Anh tự hỏi trong đầu cô ta có gì, chỉ là những kiến thức vay mượn để về dạy lại người khác chứ có chút trí tuệ gì không. Cô ta chỉ chạy đua, một là lấy cái danh hão là tiến sĩ trẻ tuổi, hai là kiếm một mức lương cao hơn nhờ học vị cao. Anh không thể tìm ra lý do nào khác cho việc cô ta chạy đua này. Rồi anh nhớ bố anh đã từng nhắc đi nhắc lại chuyện này, chuyện cố gắng thành thạc sĩ càng sơm càng tốt. Anh căm thù chuyện này.

Sáng mai tỉnh dậy, anh lơ mơ nhớ được vài thứ, anh đã say mềm đêm qua. Anh và bạn anh đã đi hát kara, anh đã nôn ở đó, uống thêm vài cốc bia và mất trí nhớ từ đó luôn. Anh quay sang và thấy người yêu anh nằm cạnh. Anh nhìn cô và mỉm cười, tối qua chắc hẳn là cô đã chở anh về. Cô bằng tuổi anh, học đại học Luật. Anh và cô đã yêu nhau được 1 năm rưỡi, cô đã nhìn thấy anh thay đổi theo từng tháng năm, thay đổi để trở về là con người hơn với trí tuệ sáng rõ hơn. Anh nghĩ là cô không hiểu anh lắm nhưng cô yêu anh, điều đó mới là quan trọng. Và anh cũng yêu cô rất nhiều, yêu nét đó ở cô. CÔ luôn ở đó, lặng lẽ, là chỗ dựa cho anh. Anh đã từng là một người hay ghen, một người thích kiểm soát, anh ghen với thậm chí là quá khứ của cô. Anh đã làm cô khổ rất nhiều. Nhưng anh mừng là anh thay đổi. Anh giờ khác, anh thay đổi nhiều về mặt trí tuệ. Anh thấy rằng mọi sự kiểm soát đều sẽ dẫn đến đau khổ. Và rằng cái việc duy nhất anh có thể làm là yêu cô. Anh, như thường lệ, vẫn suy nghĩ theo lối đó. Anh làm những thứ mình thích và chỉ về phía anh thôi. Về phía cô, anh không mong đợi gì, anh không thể đòi hỏi bất cứ thứ gì từ cô. Anh để cô làm tất cả những thứ mà cô thích, dù rằng có những việc có thể gây cho anh đau lòng. Cô là một cá thể độc lập, tự do, cô có quyền truy cầu hạnh phúc của cô, anh biết là anh không thể kiểm soát cô, anh chỉ làm điều duy nhất anh có thể làm là yêu cô. Nhưng may mắn thay, anh với cô là một đôi yêu nhau, và anh nghĩ là yêu rất sâu đậm. Anh nghĩ là nhiều người, sách báo cứ rao giảng rằng yêu là không kiểm soát. Nhưng thứ anh thấy ở cuộc sống thì lại khác, các đôi yêu nhau cứ cố gắng kiểm soát nhau, ghen tuông lẫn nhau và tất yêu là mâu thuẫn, gây đau khổ cho nhau. Và anh biết là chỉ có một trí tuệ và tâm trí tự do thì mới có thể yêu một cách vô điều kiện như vậy. Bởi vì người biết quý tự do của mình thì sẽ biết quý tự do của người khác. Bởi vì người có trí tuệ thì biết là sự áp đặt là nguyên nhân gây ra nhiều đau khổ. Anh thấy ở lịch sử và cuộc đời quá nhiều sự áp đặt rồi. Anh thấy bố mẹ áp đặt lên con cái những thứ mà họ cho là đúng, bắt họ đi theo những con đường mà họ nghĩ là tốt chứ không phải là con cái họ nghĩ là tốt. Và nếu như mọi thứ không đi theo khuôn khổ thì có nhiều từ dành cho những đứa con đấy, đó là bất hiếu, hư hỏng, không vâng lời. Các bậc cha mẹ đã dạy con cái như thế, cho nên khi lớn lên chúng chỉ biết nghe theo bố mẹ kèm theo là những nỗi sợ hãi. Những đứa bé lớn lên chỉ cố gắng làm hài lòng bố mẹ chúng, kiếm một công việc làm hài lòng cha mẹ, rồi lấy vợ lấy chồng sinh con đẻ cái. Giáo viên áp đặt lên học sinh những tiêu chuẩn của họ, nếu không thì sẽ là đòn roi, là thông báo với gia đình. Điều này là do cái gì, anh nghĩ là vì ai cũng nghĩ họ hay, họ quan trọng và họ có quyền can thiệp vào chuyện của người khác. Dù rằng có thể với mục đích tốt, nhưng anh nghĩ những sự can thiệp như thế chắc chắn là những sự can thiệp thô bạo. Bởi vì chỉ mình cá nhân mới biết cái gì là tốt nhất cho mình. Bởi vì cá nhân đã bị áp đặt như thế, cho nên dần dần lớn lên họ trở thành xác sống, họ đánh mất khả năng tự suy nghĩ của mình. Họ làm chỉ để vừa lòng bố mẹ, hay sống theo những khuôn phép và giáo điều ngu ngốc. Anh đã thấy nhiều người trong thế giới này sống mù mịt, đi mà không biết hướng, vì họ mất khả năng suy nghĩ lâu rồi. Họ đi theo những thứ người khác chỉ bảo. Phần lớn con người sống mà không biết lý tưởng cùa họ là gì, họ muốn gì hay họ đam mê cái gì. Tất cả chạy theo tiền, vật chất và làm hài lòng người khác. Chính vì thế anh luôn nhấn mạnh đến việc giành lại khả năng suy nghĩ, giành lại tâm trí và con người sẽ đạt được trí tuệ đích thực. Anh đã xem đó như là mục đích lớn lao của cuộc đời anh. Nhưng lúc đó anh không biết rằng điều này rồi sẽ đem lại bi kịch lớn nhất trong cuộc đời anh.

Anh tiếp tục nghĩ về các cuộc chiến, những mâu thuẫn lớn nhỏ trong cuộc đời. Tất cả không phải đều là vì ai cũng cho rằng họ hay, ai cũng muốn áp đặt lên người khác hây sao. Tư bản cho rằng họ tốt hơn phát xít nên chiến tranh mới xảy ra. Thiên chúa giáo cho rằng họ là tốt nhất nên thập tự chinh diễn ra. Ai cũng thế, họ mất khả năng suy nghĩ về chính mình mà lại cứ đi áp đặt lên người khác. Anh đã thấy hầu hết người trong xã hội này như thế. Anh căm ghét mọi thứ tôn giáo, đảng phái hay trường phái trên thế giới. Vì nó lập trình những đạo lý lên đầu óc con người, chia rẽ con người và gây ra mọi chiến tranh, bất hạnh.

Người yêu anh đánh thức anh khỏi những dòng suy nghĩ miên man. Anh bắt đầu ngày mới mà người mỏi rũ, đầu đau nhức. Như ai đó đã từng nói, cuộc đời cũng như những bữa rượu, sau mỗi cuộc vui là những cơn đau đầu.

Buổi tối hôm đó anh có cuộc hẹn trà chanh với đám bạn bè của anh. Họ thực sự đã làm anh rất vui, như thường lệ. Họ làm anh khóc nhiều hơn là anh nghĩ. Anh biết anh sẽ rất nhớ họ, thực sự.

Ngày hôm sau, anh và người yêu dọn dẹp, đóng ba lô giúp anh lên đường. Họ đã chuẩn bị rất nhiều thứ, từ thuốc men cho đến quần áo và những thứ lặt vặt khác. Bạn bè anh thậm chí còn chuẩn bị cho anh 1 cái điện thoại chống nước, chống va đập và 1 cái la bàn. Trưa hôm đó, anh lên đường về Vinh để chào bố mẹ anh. Anh nghĩ, đây sẽ là thử thách cuối cùng của anh, là thử thách khó khăn nhất. Anh đã nghĩ ra hẳn một bài nói để thuyết phục bố mẹ anh. Nhưng anh vẫn sợ hãi, nỗi sợ hãi hiếm hoi còn lại của anh. Anh nghĩ, tất nhiên, hẳn là anh phải rất sợ bố mẹ bởi anh 20 năm đã được nuôi dưỡng bởi phần thưởng và sự trùng phạt. Thế nên bây giờ anh phải rất sợ hãi và lo lắng. Nỗi sợ hãi đó đã ấn sâu vào tâm trí anh và giờ đây anh phải đối mặt với nó để có thể vượt qua nó. Anh đã luốn cố gắng đối mặt với từng nỗi sợ hãi vì đó là cách duy nhất để vượt qua. Anh đã từng là một người rất hay lo lắng, hay sợ hãi, như hầu hết mọi người. Nhưng anh đã thay đổi, anh luôn tự quan sát bản thân, quan sát từng ý nghĩ của anh và nhận ra những lý do đằng sau mỗi ý nghĩ và hành động. Anh đã biết rằng dường như nỗi sợ hãi là động cơ cho hầu hết mọi hành động và ý nghĩ của mọi người. Và cách duy nhất để vượt qua là đối mắt với nó. Anh cũng biết răng nỗi sợ hãi là nguyên nhân chính gây ra mọi dối trá trong thế giới này. MỌI DỐI TRÁ. CON NGƯỜI ĐÃ HOÀN TOÀN ĐÁNH MẤT SỰ CHÍNH TRỰC VÌ SỢ HÃI

Anh bắt một chiếc xe giường nằm để về vinh. Chiếc xe thật sự thoải mái và ít mùi. Đôi lúc anh khóc, như nhiều lần rồi trong những ngày vừa qua, anh khóc vì nghĩ đến bố mẹ anh. VÌ anh biết là bố mẹ anh sẽ thất vọng, nhưng anh vẫn sẽ phải chiến đấu chống lại sự u tối này. A nghĩ về sự u tối của trường học, của nên giáo dục nói chung. Anh đã trải qua những trường học tốt nhất từ cấp 2, cấp 3 cho đến đại học nhưng tất cả đều ngu ngốc như nhau. Trường học chỉ dạy kiến thức, không dạy trí tuệ. Trường học chỉ dạy học sinh chạy theo điểm số và tấm bằng, không dạy con người cách sáng tạo và tự khám phá. Trường học rập khuôn con người vào một khuôn mẫu nhất định mà không khuyến khích con người phát huy hết tiềm năng của họ. Trường học cổ vũ cho kẻ chiến thắng và chế giễu kẻ thất bại, vì thế mà tạo ra sự cạnh tranh, trương học không dạy sự bao dung. Từ nhỏ đã được dạy giẫm đạp lên nhau thế nên ra đời con người cứ thế mà trnah đấu với nhau dẫn đến xã hội loạn lạc. Thế mà xã hội cứ rao giảng về sự bao dung nhưng sự thật thì lại khác.

Anh nghĩ về những cái mặt nạ của con người. Anh đã thấy xã hội này quan tâm nhiều đến việc người khác nghĩ mình ra sao như thế nào. Đó là thứ nhà tù kinh khủng nhất ngăn cản con người trở nên vĩ đại. Những người càng quan tâm đến người khác nghĩ gì thì càng tầm thường. Từ lâu anh đã cố gắng đạp tan cái nhà tù này trong anh. Con người ta luôn muốn trở nên đẹp đẽ hơn trong mắt người khác, muốn đứng cao hơn trong mắt người khác. Họ thực hiện điều này bằng nhiều cách lắm, đó là cố gắng để đẹp hơn, để đứuc hạnh hơn, giàu hơn, khiêm tốn hơn, khác biệt hơn. Có hàng triệu cách như thế mà con người đang từng giờ từng phút lợi dụng. Họ không bao giờ muốn là chính mình. Anh tự hỏi tại sao một món hàng hiệu, một bằng cấp, một khuôn mặt đẹp trai hay một cô bạn gái xinh xắn lại khiến người ta tốt đẹp hơn. Thật nông cạn. Anh cũng biết rằng cách dễ dàng và tàn bạo nhất để giết một con người là khoác cho anh ta những chiếc áo quá rộng. Khoác cho anh ta thứ tài năng mà anh ta k có, cho anh ta sự nổi tiếng mà anh ta k đnág có, cho anh ta sự giàu sang mà anh ta k dáng ccó, cho anh ta chức vụ mà anh ta k đáng có và rồi thuyết phục anh ta và mọi người xung quanh rằng anh ta hoàn toàn xứng đáng với những chiếc áo đấy. Thế đáy, với anh cách giết một con  người dễ dàng thế đây. Tai hại, thế mà con người lại đang tự giết mình, tự giết mình bằng cách chạy đua, khoe khoang, tỏ ra giỏi giang, đức hạnh, xinh đẹp. Con người đang tự sát bằng cách tự thổi quá lớn những quả bong bong chính mình, những quả bong bong kiến thức, bong bong tài năng, bong bong đức hạnh, bong bong giàu có, hàng nghìn thứ bong bong như thế, đến một lúc nào đó chúng sẽ nổ như một lẽ dĩ nhiên. Anh từ chối làm điều đó vì anh còn ham sống lắm. Con người biến xã hội thành một cuộc đua khổng lồ. Cuộc đời không nên là một cuộc đua, cuộc đời nên là một cuộc dạo chơi, ở đó con người được quyền làm những gì mà họ thích. Khi còn nhỏ người ta bảo phải đua tranh về điểm số, đua tranh về độ ngoan ngõan và làm hài long người lớn. Lớn lên người ta đua tranh để giành tiền bạc, để đẹp hơn, để cưới một cô vợ xinh hơn, để có những đứa con giỏi giang hơn. Thế đấy, cực kỳ ngu ngốc. Thay vì để cuộc đời là một cuộc dạo chơi thì họ lại biến nó thành đấu trường. Đấu trường để đẹp hơn trong mắt người khác, cao hơn. Và rồi khi già rồi, họ nhìn lại, họ đi được xa đấy, chạy được dài đấy, nhưng là chạy nhầm hướng. Và người nào chạy càng nhanh theo một con đường sai lầm thì họ lại càng xa con đường đúng đắn. Thế nên anh thích những người nghèo hơn, họ lạc lối ít hơn. Họ chạy chậm hơn nên gần với chân lý hơn dù họ đang chạy ngược lại với chân lý. Và rằng liệu con người suốt ngày bị giới hạn vì sợ hãi những thứ người ta sẽ nghĩ về mình thì có thể sáng tạo được không. Đó là điều không tưởng. Chỉ có một tâm trí tự do mới có thể sáng tạo. những người sáng tạo có người nào mà đã không bị đám đông chê cười trước khi được công nhận bởi đời sau. Bời họ đi trước xã hội quá xa. Họ như cái đèn pha trong khi xã hội chỉ là những ngọn nến leo lắt chỉ nhìn được trong khoảng gần. Những người sáng tạo đã lao động, tìm kiếm, phá vỡ các quy tắc, bị xua đuổi và cuối cùng là chién thắng

Con người đã được bảo là phải tin vào bất cứ thứ gì khác , chỉ cần đó không phải là chính mình. Tin vào người khác, tin vào bố mẹ, tin vào những cuốn sách, tin vào nhân quả, tin vào những hệ tin tưởng, tin vào tôn giáo, miễn sao đó không phải là chính mình. Con người đã bị mềm yếu đi, con người cứ sao chép người khác, sao chép từ những thứ mà họ tin. Con người không hề tin vào chính mình. con người phải tự suy nghĩ và tự định hướng cho chính mình. Chính bản than mình, không ai khác có thể lựa chọn và quyết định số phận mình thay chính họ. Con người luôn cần những sự công nhận, sự công nhận từ người khác, sự công nhận từ những tấm bằng hay những vật xa xỉ hay những quyền lực cao. Tại sao con người lại quý nhứng tấm bằng cấp tốt đẹp đến thế. Nếu con người tự tin về chính năng lực của họ thì bằng cấp cũng chỉ là tờ giấy lộn. Tại sao con người lại luôn tỏ ra đức hạnh đến thế. Vì họ k có thứ đức hạnh trong tâm hồn đâu. Họ nghĩ là họ không có nên họ cố gắng thể hiện nó ra ngòai để tìm kiếm sự công nhận từ người khác. Tại sao con người luôn tỏ ra đẹp đẽ thế. Vì họ không nghĩ là họ đẹp đâu. Một ai đó nói rằng họ đẹp và họ sẽ tin là họ đẹp và nếu như có ai đó nói xấu thì họ cũng sẽ nghĩ là xấu. Tại sao con người luôn khoe mẽ về giàu sang hay kiến thức. Vì họ không có sự giàu sang hay kiến thức mà họ muốn, họ chỉ muốn người khác công nhận và vì thế họ tin, họ tự an ủi. Thế đấy, con người đơn giản là quá dề bị ảnh hưởng, mất long tin hoàn toàn vào chính mình.


ANh bước xuống xe lúc 7 rưỡi tối với ít sự lo lắng. Anh gọi cho bố anh để chắc rằng bố anh ở nhà, để anh có thể nói chuyện với bố mẹ cùng lúc. Anh xoa tan cơn đói bằng một đĩa xôi để chắc rằng anh đủ sức lực để đánh cuộc chiến này. Anh về nhà, gọi thêm cô bác của anh nữa, anh cũng không hiểu tại sao nhưng anh cứ làm thế. Anh bắt đầu cuộc chiến bằng một lời thông báo rằng anh đã nghỉ học nhưng anh nhận ra anh không đủ tự tin để nói ra những thứu anh đã chuẩn bị. Và tất nhiên anh không thể giải thích được nhiều, anh chỉ bảo rằng việc học ở trường không còn cần thiết, rằng anh phải mài giũa trí tuệ, giải phóng tâm trí anh khỏi những tư tưởng, những sợ hãi lập trình trong tâm trí anh. Rằng anh phải giành lại quyền kiểm soát tâm trí anh. Nhưng mọi người không hiểu, không ai hiểu anh cả. Họ cho rằng đó là ngu ngốc, là vô tương lai. Tất cả xúm lại vỗ về anh, bảo rằng anh bị ma ám, bị các tổ chức, đảng phái lợi dụng. Rồi thì bố mẹ anh khóc. Họ nói về sự thất nghiệp vô học của anh, họ vẽ ra cho anh một cuộc sống an toàn, vô trí thức, họ nói về cái danh dự của họ trước mắt thiên hạ, họ nói về chức tước của họ. Anh chẳng nghe được gì nữa.Anh sụp đổ an toàn. Anh đã khóc rất nhiều. Anh đã cảm thấy răng cái chết sẽ là sự giải thoát dễ dàng với anh hơn rất nhiều. Anh chỉ biết rằng bố mẹ anh đã đánh đổi anh để lấy cái danh giá của gia đình anh. Anh đau bởi vì chưa bao giờ anh yêu cầu ở bố mẹ bất cứ thứ gì. Anh đau vì anh luôn bảo rằng bố mẹ làm gì bố mẹ thích và thấy hạnh phúc. Anh sẽ chấp nhận và yêu bố mẹ dù bố mẹ anh có thành người nhu thế nào. Thế mà bố mẹ anh đã không thể chấp nhận anh, không thể chấp nhận con đường của anh, bố mẹ yêu cầu anh phải trở lại trường, cái nơi u tối đó. Tất cả sụp đổ quanh anh, anh cảm thấy bị rút cạn hết cảm xúc. Anh cảm thấy rằng anh chỉ là một thứ trang sức đối với người khác. Anh đã nghĩ rằng bố mẹ anh sẽ yêu anh đủ nhiều để dù anh là một kẻ ăn xin bố mẹ anh vẫn sẽ chấp nhận anh. Nhưng tất cả đã sụp đổ. Bố anh nói về chuyện cưới xin của anh. Nhưng anh yêu người yêu anh quá nhiều để có thể bắt cố ấy vào gia đình này, để anh phải chịu cái sự danh giá mà anh đang chịu đưungj. Anh ngủ thiếp đi trong một đêm kinh hoàng nhất đời anh. Ý nghĩ cuối cùng của anh là bố mẹ anh đã tiếp sức cho khoảnh khắc đau đớn nhất đời anh. Khoảnh khắc đó là trước khi chết, khoảnh khắc đau đớn nhất của hầu hết mọi người nhưng anh nghĩ với anh sẽ đau đớn hơn tất cả. Bời vì đáng ra anh đã có thể thoát khỏi khoảnh khắc đó nhưng bố mẹ anh đã đưa nó trở lại. Khoảnh khắc mọi người đối diện với cái chết, khoảnh khắc mà con người biết rằng thời gian đối với họ đã hết. Lúc đó cái chết là lực lượng tuyệt đối, mọi thứ như tiền tài, vinh quang, sự vui lòng của cha mẹ hay tôn vinh của người kahcs sẽ biến mất. Con người sẽ trơ trọi, đối mặt với chính mình và nhận ra rằng họ đã phí hoài cuộc sống, họ đã sống một cuộc đời làm vừa lòng người khác, họ đã không thể sống một cuộc sống là chính mình và họ biết thời gian đã hết, họ hối hận cũng không kịp. Anh thấy đau đơn đến phát điên khi nghĩ đến chuyện này, tất cả vì bố mẹ anh, người mà anh yêu nhất. Anh ngủ say đi trong cái đau đớn đến cùng cực này.

Ngày hôm sau là ngày mà anh không thể cảm thấy gì nữa, mọi cảm xúc đã biến mất với anh, anh thậm chí chả cảm thấy gì. Anh ngủ cả ngày với niềm ao ước là anh không phải tỉnh dậy nữa. Anh không phải tỉnh dậy để thấy tất cả những chuyện này. Một người cô đã sang thăm anh, hỏi han anh. Anh đã phát điên khi bàn tay bà ta chạm vào anh. Anh phát điên, anh muốn hét vào mặt bà ta rằng: “Cút đi. Đừng đến gần tôi. Đừng chạm vào tôi. Đừng quan tâm tôi. Đừng thiết lập bất cứ mối quan hệ nào với tôi. Tối không muốn thân quen với ai cả. Tất cả chỉ lợi dụng tôi. Tất cả chỉ coi tôi là trang sức, tất cả ai cũng yêu cầu tôi thành người này người nọ. Không ai cho tôi làm chính tôi cả. KHông ai chấp nhận tôi cả. Tất cả đều là lừa dối. Làm gì có yêu, toàn là lừa dối. Chỉ cần 2 người như bố mẹ tôi là đủ rồi. Tôi không cầ ai nữa để bắt tôi thành người khác, để xâu xé tôi”

ANh chạy vội vào nhà tắm, thả mình vào vòi hoa sen và khóc. Anh đã thua trong cuộc chiến này, cuộc chiến với sự u tối của con người. Anh đã thua vì nó quá mạnh mẽ. Nó có bố mẹ anh, cô bác anh, nó là cả xã hội này. Và hơn hết nó có tình yêu của anh đối với họ. Thế nên tôi đã không thể thắng. Tối yêu họ và tôi căm thù họ. Tôi căm thù xã hội này và con người đến điên cuồng, đến tận xương tủy. Anh không đủ dũng cảm để chết, cũng không đủ dũng cảm để nhìn mẹ anh chết. Nhưng anh biết anh cũng không thể sống với sự u tối này. Cuộc đời anh giờ đay là cả một sự bi kịch. Anh nghĩ bố mẹ anh đã sinh ra anh và giờ đây họ đã tước quyền sống của anh. Thế nên anh chỉ tồn tại, còn tất cả trong anh đã chết. Anh gục xuống khóc và nằm sõng soài dưới vòi hoa sen.


Thứ Năm, 21 tháng 2, 2013

Câu chuyện của niềm tin



1. Tôi đến từ nông thôn, gần như từ luống cày chui ra. Thế rồi, như bao bạn trẻ khác, tôi rời quê khi học hết phổ thông. Rồi cũng như bao người khác, tôi ra nước ngoài học tiếp khi xong đại học. 

Gần mười hai năm học tập và làm việc ở nước ngoài đã mang lại cho tôi nhiều trải nghiệm thú vị. Một trong những thứ đó là niềm tin giữa con người với con người. 

Trước khi ra nước ngoài, những hình dung của tôi về thế giới bên ngoài, về xã hội phương Tây chỉ gói gọn trong mấy chữ: ăn chơi, đồi trụy, tội ác, lừa đảo, thù địch, bóc lột, giãy chết. Tất cả đều là những tính từ và những danh từ, đại từ chung. Rất ít bóng dáng những con người cụ thể, sự việc cụ thể. 

Những ý niệm này đã len lỏi vào đầu tôi qua báo chí, phim ảnh, giảng đường, đài truyền thanh... Ngay cả những bàn tán của người lớn quanh bàn trà quê mỗi tối đôi khi cũng có những tác dụng tương tự. 

Nhưng tịnh không có một lời nào về niềm tin giữa những con người trong xã hội này. Dường như đó là xã hội của loài lang sói. Chỉ đất nước tôi đang sống đây mới là xã hội của loài người. Tôi tin như vậy, và bao người khác cũng tin như vậy.

Tin, nhưng trước mắt tôi lúc nào cũng như có một một màn sương mù bao phủ làm tôi không nhìn rõ được điều gì. Tất cả chỉ là suy đoán và cảnh giác. Một sự cảnh giác thường trực, được rèn rũa. 

Hình dung về xã hội bên ngoài trong đầu tôi là rõ ràng và chắc nịch. Những nhận định được giảng đi giảng lại như một niềm tin yêu vĩnh cửu lẽ nào lại có thể sai. Nhưng vì sao lại có màn sương che phủ? 

Những cái tên nước ngoài mỗi ngày thêm phổ quen thuộc. Bên cạnh tên của các nhà khoa học mà tôi gặp hang ngày trên trang sách, thì tên của cả các ca sĩ và các cầu thủ bóng đá cũng dần trở thành những cái tên cửa miệng: tong trang sách, trên mặt báo, trên màn hình ti vi, trong quán nước, ngoài đường phố. 

Tôi nhận ra có một sự mâu thuẫn đang quẩn quanh đâu đó chỗ này. Thế giới bên ngoài vừa hấp dẫn vừa đáng sợ. Xã hội bên ngoài vừa cụ thể rõ ràng, vừa mập mờ trừu tượng. Những cái tên nước ngoài vừa xa lạ vừa gần gũi. 

Màn sương vẫn còn đó, dù đã mỏng đi đôi chút. Nhưng các ý niệm trong đầu tôi vẫn vững chắc. Tôi tụ nhủ: Chân lý có bao giờ sai. 

Nhưng vì sao chân lý lại ẩn nấp sau một màn sương mờ? 

Tôi chìm trong sự hoài nghi dày đặc. Tôi hoang mang nhận ra các mâu thuẫn. Và các diễn giải, không phải lúc nào cũng đưa ta đến gần sự thật. 

Sự tò mò của tuổi trẻ đã kéo tôi ra khỏi màn sương đó. Tôi muốn thấy bên ngoài họ sống và làm việc như thế nào. Tôi muốn nhìn thấy nó rõ ràng. Mà như vậy, tôi chỉ còn một cách là phải đến tận nơi, sờ tận tay, nhìn tận mặt... 

2. Tôi ra đi với tâm trạng đầy tò mò và cảnh giác. Để rồi cũng đầy vật vã khi nhận ra chân lý chỉ là định kiến được tưới mãi vào đầu. Rồi cũng đầy an ủi khi thấy rằng đã là con người thì ở đâu cũng có tin yêu, dù vẫn còn đó sự bất toàn, tốt xấu song hành. 

Tôi lang thang từ hệ thống này sang hệ thống khác. Vấn đề là ở những định kiến mang tính hệ thống, chứ không phải ở con người. 

Tôi dành hai năm để kết tinh lại nhận thức của mình. Tôi thay đổi, vì trải nghiệm, không phải vì những lời thuyết giảng. 

Rồi tôi đi xa hơn nữa. Càng đi xa, tôi càng xót xa vì sự lệch lạc, thậm chí kỳ quái, trong những nhận thức trước đây của bản thân mình. 

3. Tôi có bạn bè mới, thầy cô mới, đồng nghiệp mới. Trong công việc không có định kiến, không có phân biệt. Tất cả diễn ra trong một sự trung thực và cởi mở hồn nhiên. Hồn nhiên đến mức ngạc nhiên. 

Tôi chìm đắm trong bầu không khí dân chủ, bình đẳng và tinh thần tự do học thuật. Tôi thấy mình được tôn trọng, và ý thức được mình có quyền được người khác tôn trọng. 

Tôi phải làm đủ thứ giấy tờ nhưng không bao giờ thấy những con dấu đỏ. Chỉ cần một chữ ký cá nhân là đủ, một cuộc điện thoại, một lá email là xong. Không ai hạch sách, không ai đòi kiểm tra, không ai đòi công chứng bản gốc. 

Tôi lên tàu điện: không có người soát vé. Họ tôn trọng chúng tôi, và tin chúng tôi. Thỉnh thoảng họ có đi kiểm tra định kỳ thì cũng rất lịch sự, không gây cho mình cảm giác khó chịu. 

Tôi ra siêu thị: không ai bắt tôi phải gửi đồ trước khi vào mua hàng. Không ai kiểm tra chúng tôi khi ra. Họ tôn trọng chúng tôi, và tin chúng tôi. 

Tôi và một người bạn đi mua bảm hiểm xe. Điều khoản cho thấy biết, nếu mất xe thì sẽ được đền xe mới. Bạn tôi hỏi: nếu chúng tôi bán xe rồi báo mất thì sao? Nhân viên bảo hiểm ngạc nhiên mất một lúc lâu mới nghĩ ra được câu trả lời: tôi tin các anh không làm thế. 

Lần đầu tiên tôi cảm nhận được sự tin tưởng mang tính hệ thống. Một sự tin tưởng cá nhân mạnh mẽ lan tỏa trong toàn xã hội. Chữ Tín được xác lập mà không cần sự có mặt của các loại công chứng bản gốc, chứng thực, xác nhận... 

Tôi vỡ ra: À, ra thế. Họ giàu mạnh vì họ tin ở con người. 

4. Mười hai năm sau tôi trở về. Nhiều cái như xưa. Nhiều cái hơn xưa. Nhưng cũng nhiều cái tệ hơn xưa. 

Tôi làm thủ tục nhận đồ mình gửi cho mình. Tên tôi đây. Địa chỉ tôi đây. Hộ chiếu của tôi đây. Vậy sao mà rắc rối đến vậy? Sao phải xác nhận? Sao phải chứng minh? Sao phải công chứng bản gốc? 

Tôi có làm gì đâu, chỉ là nhận đồ mình gửi cho mình thôi mà sao phức tạp như vậy. Lẽ ra tôi chỉ chờ ở nhà, đúng hẹn công ty vận chuyển sẽ mang đồ đến. Tôi chỉ cần ký xác nhận là xong. 

Tôi được giải thích ở Việt Nam mọi thứ cần phải đúng quy trình chứ không đơn giản như vậy. 

Tôi ngẫm ra: càng nhiều dấu đỏ, càng ít niềm tin. Mà càng ít niềm tin thì càng nghèo khó. 

Tôi bật cười: nghèo khó đúng quy trình. 

5. Tôi đưa gia đình đi siêu thị Big C Long Biên. Niềm vui khi thấy một siêu thị bề thế, nhộn nhịp vừa mới nhen lên thì gặp ngay một chuyện ngỡ ngàng: Tất cả những ai muốn vào siêu thị đều phải gửi đồ bên ngoài. Con gái tôi có một túi khoác nhỏ để đựng mấy thứ lặt vặt cũng phải niêm phong rồi mới được mang theo. 

Vì sao vậy? Chúng tôi hỏi thì chỉ nhận được câu trả lời: Đây là quy định. 

Quy định gì? Quy định không được tin nhau. 

Câu chuyện có lẽ sẽ chỉ là một phiền toái buồn, nếu không có chuyện sau khi thanh toán, tất cả khách hàng lại bị kiểm tra một lần nữa, và hóa đơn phải được đóng dấu đỏ “đã thanh toán” thì mới được nhân viên an ninh cho ra ngoài. 

Chúng tôi tự hỏi: chuyện quái quỉ gì đang xảy ra vậy? Quầy thanh toán có hai nhân viên kiểm tra và tính tiền. Từ quầy thanh toán ra đến cửa ra này chỉ chừng 2 mét, lại không có hàng hóa gì bày bán trên đoạn đường 2 mét đó. Vậy cớ sao phải kiểm tra lại? Cớ sao phải đóng dấu vào hóa đơn thì mới được ra? 

Vợ tôi phản ứng dữ dội: Nếu kiểm tra mà không tìm thấy sai sót nào thì các anh có xin lỗi chúng tôi không? Nhưng chúng tôi chỉ nhận được một câu trả lời lạnh lùng: Đây là quy định. 

Tôi nhìn những người xếp hàng chờ kiểm tra và đóng dấu hóa đơn. Tất cả đều kiên nhẫn và ngoan ngoãn. Họ có thể làm gì trên đoạn đường dài 2 mét đó để phải chịu cảnh khám xét? 

Tôi lặng lẽ quan sát. Rất nhiều người lớn tuổi. Lịch sử như phảng phất qua bộ quân phục cũ. Một vài nụ cười cầu hòa dù chủ nhân không làm gì sai. Một vài ánh mắt lấm lét không có lý do. Nhiều gương mặt cam chịu và chờ đợi cảnh được khám xét. 

Tôi cố gắng tìm lý do để biện minh cho việc làm kỳ quái đó, nhưng không thể. 

Tôi rút ra kết luận: Người Việt không tin người Việt. Người Việt không hiểu răng mình có quyền được người khác tôn trọng. 

Xã hội đang bắt người Việt phải nghi ngờ nhau. 

6. Chúng tôi ra về, nhưng câu hỏi: Vì sao người Việt không tin nhau vẫn là một ám ảnh. Phải chăng chúng ta đã quen sống trong một sự cảnh giác thường trực đến độ thành phản xạ có điều kiện? Phải chăng di chứng của mấy chục năm chiến tranh vẫn còn hằn nặng, để người Việt luôn thấy mọi thứ xung quanh đều là thù địch, đáng ngờ? Hay có một hệ thống tinh vi đang bắt chúng ta phải nghi ngờ nhau “theo quy định, đúng quy trình”? 

Tôi bất giác nhớ đến mớ giấy tờ đỏ choét những con dấu công chứng sao y bản gốc. Tôi tự hỏi: Tôi và triệu người quanh tôi đã mất bao nhiêu thời gian cho những thứ này? 

Tôi tự hỏi: Phải chăng đang có một cuộc “khủng hoảng niềm tin”? 

Và khi nào thì người ta không tin nhau? 

Rõ ràng là khi có sự dối trá. Người ta không tin nhau khi cần phòng tránh sự dối trá. 

Và chúng ta đã mất biết bao nhiêu thời gian và nguồn lực để cảnh giác, phòng tránh, đương đầu với sự dối trá này? 

Không ai thống kê định lượng, nhưng chắc hẳn là rất nhiều. 

7. Việt Nam đang rất cần một sự quy tụ nguồn lực để phát triển. Nhưng quy tụ làm sao khi cả xã hội sống trong tâm trạng cảnh giác thường trực, lúc nào cũng nơm nớp đề phòng? Quy tụ làm sao khi sự giả dối đã trờ thành “nỗi nhục lớn”? Quy tụ làm sao khi niềm tin giữa người với người đã trở lên cạn kiệt? 

Việt Nam đang rất cần hội nhập, rất cần làm bạn với thế giới bên ngoài. Nhưng hội nhập làm sao khi luôn nhìn thế giới bên ngoài với con mắt thù địch nghi ngờ? Làm bạn làm sao khi không có lòng tin vào đối tác của mình? 

Đất nước đã thống nhất nhưng lòng người chưa thống nhất. Di sản của mấy mươi năm chiến tranh quá đỗi nặng nề. Trong này kinh tế khó khăn. Ngoài kia Biển Đông nổi sóng. Một cuộc hòa giải, để sau đó có một sự hòa hợp Nam Bắc, trong ngoài là cần thiết hơn bao giờ hết. Nhưng hòa giải, hòa hợp làm sao khi sự nghi kỵ nhau đã được nâng lên thành quy định? 

Niềm tin là một vốn quý của xã hội. Nhiều học giả đã gọi niềm tin là một thành phần quan trọng của vốn xã hội. Khi niềm tin cạn thì vốn xã hội cũng cạn theo. Mà cạn vốn thì làm sao phát triển? 

Vậy nên, câu chuyện về vốn xã hội, trước hết phải là câu chuyện của niềm tin. Mà câu chuyện của niềm tin thì có gì khác hơn là câu chuyện về sự trung thực? 

Cũng vậy nên, để khôi phục được niềm tin và làm giàu thêm lưng vốn của mình, vốn đã bị chiến tranh và những sai lầm trong lịch sử tàn phá làm quá nhiều, thì trước hết phải khôi phục được sự thẳng ngay trung thực. 

Không có sự trung thực thì không có niềm tin. Không có niềm tin thì thời gian và nguồn lực sẽ chỉ dành cho việc nghi ngờ, đề phòng và cắn quẩn lẫn nhau. Mà mề phòng cắn quẩn lẫn nhau thì nghèo hèn, tụt hậu sẽ là điều tất yếu.


Chủ Nhật, 17 tháng 2, 2013

Những lời thông thái gửi đến mọi người

"Có 2 cách để trở thành người xuẩn ngốc. Một là những người tin vào những điều không phải là sự thật, còn lại là những người từ chối tin vào sự thật."

“There are two ways to be fooled. One is to believe what isn’t true; the other is to refuse to believe what is true.”

 –Soren Kierkegaard


Thứ Ba, 5 tháng 2, 2013

Mạn đàm về giáo viên và học sinh - Osho


- Chính điều đầu tiên tôi muốn nói là ở chỗ mối quan hệ hiện tại giữa giáo viên và xã hội đã chứng tỏ nguy hiểm. Mối quan hệ đó là gì? Mối quan hệ là ở chỗ, giáo viên là nô lệ còn xã hội là ông chủ hay người sở hữu

- Theo tôi, một người có thể trở thành người thầy đúng nghĩa chỉ khi ông ta có trong mình một ngọn lửa mạnh mẽ, mãnh liệt của sự nổi dậy.
Một giáo viên không có ngọn lửa của sự nổi dậy ấy bên trong sẽ trở thành nhân viên của một số đường lối, một số lợi ích — có thể của xã hội, có thể của tôn giáo, hay có thể của chính trị. Mọi giáo viên phải có ngọn lửa nổi dậy mãnh liệt, của suy nghĩ và phản chiếu. Nhưng chúng ta đã có ngọn lửa của suy nghĩ độc lập hay chưa? Nếu chưa, chúng ta có là gì hơn những người trông cửa hàng?


- Nơi có cạnh tranh thì không thể có tình yêu. Cạnh tranh là một dạng của đố kỵ, một kiểu kích động mãnh liệt, ghen tỵ. Bạn đang dạy cái gì vậy?
Khi một đứa trẻ đứng nhất lớp, đứa trẻ khác được bảo rằng nó bị tụt lại đằng sau và người bạn cùng lớp này đã về đầu. Bạn đang dạy nó thoả mãn hư danh, cạnh tranh và vượt lên trước. Bạn đang dạy bản ngã, bảo chúng rằng người nào đứng nhất thì cao hơn, và người ở phía sau thì thấp hơn. 
… Cho nên khi những đứa trẻ được đào tạo trong bản ngã, ghen tỵ và cạnh tranh như thế, làm sao chúng yêu thương được? Yêu thương là cho phép những người mình yêu quý đi trước. Tình yêu luôn có nghĩa bạn luôn là người sau cùng.
Thế giới liệu có thể trở thành một nơi tốt đẹp hơn để sống trong khi chất độc của cạnh tranh và tham vọng đang được dội xuống trí não trẻ em? Khi một đứa trẻ say mê vượt lên những đứa khác và những đứa khác thì đang muốn bỏ nó lại phía sau, thế thì, sau khi được giáo dục trong hai mươi năm, nó sẽ làm gì trong đời? Nó sẽ làm cái mà nó được dạy.
… Chúng ta dạy sự cảm thông và khoan dung. Nhưng làm sao một tâm trí cạnh tranh có thể độ lượng và cảm thông? Nếu có cảm thông trong tâm trí người cạnh tranh thì anh ta có thể tranh giành như thế nào? Tâm trí cạnh tranh sẽ luôn luôn khắc nghiệt, bạo lực và không độ lượng – anh ta phải thế.

- Nơi nào có phần thưởng và trừng phạt nơi đó có lòng tham và sợ hãi. Nhưng chúng ta dạy con em chúng ta cái gì? Phương pháp chúng ta giảng dạy là gì?
... Chúng ta đã dạy chúng tham lam và tham lam hơn nữa, bởi vì cái đó gọi là thành công. 
Có chỗ nào cho những kẻ không thành công hay không?… Nếu tôi thử nói sự thật và tôi trở thành không thành công, liệu tôi sẽ phải làm gì khác?
…Chừng nào thành công còn là tiêu chuẩn duy nhất để đánh giá, dối trá, không trung thực và trộm cắp sẽ có đó.
Chúng ta cứ tiếp tục gào và khóc rằng không trung thực đang gia tăng. Nó nhất định tăng, bởi vì đó là quả của tất cả những gì chúng ta dạy suốt năm ngàn năm qua.

- Một con người phải được hoàn thành chứ không phải thành công. Một con người không thành công trong động cơ tốt còn tốt hơn một con người thành công trong động cơ xấu. Kính trọng nên được trao cho những hành động tốt chứ không phải thành công
Nếu bạn thật sự muốn làm gì đó cho con cái mình và nếu bạn yêu thương con cái bạn, hãy vứt bỏ tính trung tâm của thành công và tạo một trung tâm xung quanh sự hoàn thành. 
Nếu bạn có tình yêu nào đó với nhân loại và nếu bạn thực sự muốn thiết lập một thế giới mới, một nền văn hoá mới và một con người mới, bạn sẽ phải từ bỏ và phá huỷ sự ngu xuẩn cũ kỹ của mình và suy nghĩ xem làm sao một cuộc nổi dật có thể được tạo ra từ bên trong
Một giáo viên cơ bản phải là một người nổi dậy vĩ đại trong thế giới này; chỉ thế thì anh ta mới có thể dẫn dắt thế hệ mới. Nhưng giáo viên lại là người theo chủ nghĩa truyền thống vĩ đại nhất và liên tục lặp lại những thứ phân cứt cũ rích. 

- Kiểu nổi dậy nào mà tôi trông đợi từ giáo viên? Anh ta có nên đốt nhà, làm trật bánh xe lửa, hay đốt xe buýt? Không, đừng làm anh ấy hiểu nhầm tôi. Tôi chỉ nói rằng cách tiếp cận của anh ta đối với các giá trị của anh ta – các giá trị của chúng ta – nên mang một tinh thần nổi dậy và do đó anh ấy nên nghĩ thấu đáo về những thứ rõ ràng đang sai lầm.

- Trong toàn thể thế giới thậm chí chẳng thể tìm được một hòn sỏi bằng hòn khác. Ở đây mọi thứ là duy nhất và vô song. Chừng nào chúng ta còn chưa kính trọng sự duy nhất của mỗi cá nhân, thì ganh đua, cạnh tranh, những kẻ giết người và bạo lực sẽ vẫn còn lại
...Không phải vô nghĩa mà mọi người có tính cá nhân. Niềm tự hào vĩ đại là bạn khác những người khác. Chẳng có gì cao hơn hay thấp hơn, mọi người đơn giản là như vậy. Mỗi người ở trong không gian của chính mình; do đó tất cả các loại giá trị đều sai. Nhưng chúng ta đang dạy những điều sai này.

- Đã có những cuộc cách mạng kinh tế trên thế giới này. Những người tư bản đã bị xoá bỏ và những người lao động đã chiếm được chỗ của họ…. Nhưng chẳng có gì thay đổi cả – các tầng lớp vẫn tiếp tục... Bất kỳ ai có đủ sức mạnh thì duy trì trong quyền lực, và những ai không có sức mạnh thì là những người không ở trong quyền lực. “Những tầng lớp mới” được hình thành nhưng “các tầng lớp” thì vẫn còn. 

Đủ mọi thí nghiệm được tiến hành trong bốn hay năm ngàn năm cho hạnh phúc loài người tất cả đều đã thất bại. Cho đến giờ một thí nghiệm vẫn chưa được làm, và đó là cách mạng trong giáo dục.
Cuộc thí nghiệm này là dành cho giáo viên. Tôi cảm thấy rằng anh ta có thể làm xảy ra một cuộc cách mạng vĩ đại. Những cuộc cách mạng chính trị, kinh tế hay tôn giáo không có nhiều giá trị như cuộc cách mạng giáo dục có thể có. Nhưng ai có thể làm xảy ra một cuộc cách mạng như vậy. Điều đó có thể được làm bởi những con người nổi dậy, những người mà dám nghĩ và dám nghi vấn những gì họ đã làm cho tới giờ.
… Trong cấu trúc mới đó sẽ không có giá trị nào trong thành công và trong tham vọng, đứng đầu tiên hay cuối cùng không còn là vấn đề để kính trọng hay xúc phạm. Không có sự so sánh giữa người này với người khác.

- Tôi đang nói bạn hãy yêu thương những đứa trẻ. Nghĩ về và ước mong cho hạnh phúc của chúng. Bởi vì tình yêu và khát vọng này cho những điều tốt lành đối với chúng, kỷ luật mà không áp đặt sẽ bắt đầu xuất hiện, kỷ luật được sinh ra bởi chính trí thông minh của trẻ em.

Tuy nhiên, sẽ có một sự khác biệt. Hiện giờ tình huống là đứa trẻ càng ý thức, nó càng không có kỷ luật; và đứa trẻ càng ngu ngốc thì nó sẽ càng có kỷ luật.
Điều tôi đang cố gắng nói với bạn là nếu kỷ luật đến thông qua phương tiện của tình yêu, thế thì sẽ không có kỷ luật trong những kẻ ngốc, nhưng đứa trẻ càng tỉnh táo và ý thức, kỷ luật nảy sinh trong nó sẽ càng to lớn. 
Hiện giờ chỉ có những đứa trẻ trì trệ không hề có cuộc sống lẫn chút cảm hứng nào có kỷ luật. Những đứa có ý thức và khả năng suy nghĩ thì vô kỷ luật. Nếu có tình yêu, mọi thứ sẽ đảo ngược. Kỷ luật của những kẻ ngu si chẳng có giá trị gì. Kỷ luật tới từ ý thức thì có giá trị bởi một kỷ luật ý thức nghĩa là nó được sinh ra từ tư duy và nó có thể chối từ những yêu cầu sai lầm của kỷ luật.

- Hiện tại thế giới cần rất nhiều cú sốc để được thức tỉnh, từ đó vài tư tưởng được sinh ra. Chúng ta hầu hết ngủ, say như chết. Và mọi thứ chỉ tiếp tục trôi ngang qua. Tôi hy vọng bạn có vài cú sốc từ vài hướng, để bạn mở mắt bạn ra và bắt đầu nghĩ.

Osho – Gíáo viên, xã hội và cách mạng


Chủ Nhật, 27 tháng 1, 2013

‎"NGƯỜI MẸ ĐIÊN"

Hai mươi ba năm trước, có một người con gái trẻ lang thang qua làng tôi, đầu bù tóc rối, gặp ai cũng cười cười, cũng chả ngại ngần ngồi tè trước mặt mọi người. 



Vì vậy, đàn bà trong làng đi qua cô gái thường nhổ nước bọt, có bà còn chạy lên trước dậm chân, đuổi "Cút cho xa!". Thế nhưng cô gái không bỏ đi, vẫn cứ cười ngây dại quanh quẩn trong làng. Hồi đó, cha tôi đã 35 tuổi. Cha làm việc ở bãi khai thác đá bị máy chém cụt tay trái, nhà lại quá nghèo, mãi không cưới được vợ. Bà nội thấy con điên có sắc vóc, thì động lòng, quyết định mang cô ta về nhà cho cha tôi, làm vợ, chờ bao giờ cô ta đẻ cho nhà tôi "đứa nối dõi" sẽ đuổi đi liền. 

Cha tôi dù trong lòng bất nhẫn, nhưng nhìn cảnh nhà, cắn răng đành chấp nhận. Thế là kết quả, cha tôi không phải mất đồng xu nào, nghiễm nhiên thành chú rể. 
Khi mẹ sinh tôi, bà nội ẵm cháu, hóp cái miệng chẳng còn mấy cái răng vui sướng nói: 
- "Cái con mẹ điên này, mà lại sinh cho bà cái đứa chống gậy rồi!". 

Có điều sinh tôi ra, bà nội ẵm mất tôi, không bao giờ cho mẹ đến gần con. Mẹ chỉ muốn ôm tôi, bao nhiêu lần đứng trước mặt bà nội dùng hết sức gào lên: 
- "Ðưa, đưa tôi..." 

Bà nội mặc kệ. Tôi còn trứng nước như thế, như khối thịt non, biết đâu mẹ lỡ tay vứt tôi đi đâu thì sao? Dù sao, mẹ cũng chỉ là con điên. Cứ mỗi khi mẹ khẩn cầu được bế tôi, bà nội lại trợn mắt lên chửi: 
- "Mày đừng có hòng bế con, tao còn lâu mới đưa cho mày. Tao biêt được mày bế nó, tao đánh mày chết. Có đánh chưa chết thì tao cũng sẽ đuổi mày cút!". 

Bà nội nói với vẻ kiên quyết và chắc chắn. Mẹ hiểu ra, mặt mẹ sợ hãi khủng khiếp, mỗi lần chỉ dám đứng ở xa xa ngó tôi. Cho dù vú mẹ sữa căng đầy cứng, nhưng tôi không được một ngụm sữa mẹ nào, bà nội đút từng thìa từng thìa nuôi cho tôi lớn. Bà nói, trong sữa mẹ có "bệnh thần kinh", nếu lây sang tôi thì phiền lắm. Hồi đó nhà tôi vẫn đang giãy giụa giữa vũng bùn lầy của nghèo đói. Ðặc biệt là sau khi có thêm mẹ và tôi, nhà vẫn thường phải treo niêu. Bà nội quyết định đuổi mẹ, vì mẹ không những chỉ ngồi nhà ăn hại cơm nhà, còn thỉnh thoảng làm thành tiếng thị phi. 

Một ngày, bà nội nấu một nồi cơm to, tự tay xúc đầy một bát cơm đưa cho mẹ, bảo: 
- "Con dâu, nhà ta bây giờ nghèo lắm rồi, mẹ có lỗi với cô. Cô ăn hết bát cơm này đi, rồi đi tìm nhà nào giàu có hơn một tí mà ở, sau này cấm không được quay lại đây nữa, nghe chửa?". 

Mẹ tôi vừa và một miếng cơm to vào mồm, nghe bà nội tôi hạ "lệnh tiễn khách" liền tỏ ra kinh ngạc, ngụm cơm đờ ra lã tã miệng. Mẹ nhìn tôi đang nằm trong lòng bà, lắp bắp kêu ai oán: 
- "Ðừng... đừng...". 

Bà nội sắt mặt lại, lấy tác phong uy nghiêm của bậc gia trưởng nghiêm giọng hét: 
- "Con dâu điên mày ngang bướng cái gì, bướng thì chả có quả tốt lành gì đâu. Mày vốn lang thang khắp nơi, tao bao dung mày hai năm rồi, mày còn đòi cái gì nữa? Ăn hết bát đấy rồi đi đi, nghe thấy chưa hả?". 

Nói đoạn bà nội lôi sau cửa ra cái xẻng, đập thật mạnh xuống nền đất như Dư Thái Quân nắm gậy đầu rồng, "phầm!" một tiếng. Mẹ sợ chết giấc, khiếp nhược lén nhìn bà nội, lại chậm rãi cúi đầu nhìn xuống bát cơm trước mặt, có nước mắt rưới trên những hạt cơm trắng nhệch. Dưới cái nhìn giám sát, mẹ chợt có một cử động kỳ quặc, mẹ chia cơm trong bát một phần lớn sang cái bát không khác, rồi nhìn bà một cách đáng thương hại. Bà nội ngồi thẫn thờ, hoá ra, mẹ muốn nói với bà rằng, mỗi bữa mẹ sẽ chỉ ăn nửa bát, chỉ mong bà đừng đuổi mẹ đi. Bà nội trong lòng như bị ai vò cho mấy nắm, bà nội cũng là đàn bà, sự cứng rắn của bà cũng chỉ là vỏ ngoài.

Bà nội quay đầu đi, nuốt những giọt nước mắt nóng đi, rồi quay lại sắt mặt nói: 
- "Ăn mau ăn mau, ăn xong còn đi. Ở nhà này cô cũng chết đói thôi!". 

Mẹ tôi dường như tuyệt vọng, đến ngay cả nửa bát cơm con cũng không ăn, thập thễnh bước ra khỏi cửa, nhưng mẹ đứng ở bậc cửa rất lâu không bước ra. Bà nội dằn lòng đuổi: 
- "Cô đi, cô đi, đừng có quay đầu lại. Dưới gầm trời này còn nhiều nhà người ta giàu!". 

Mẹ tôi quay lại, đưa một tay ra phía lòng bà, thì ra, mẹ muốn được ôm tôi một tí. Bà nội lưỡng lự một lúc, rồi đưa tôi trong bọc tã lót cho mẹ. Lần đầu tiên mẹ được ẵm tôi vào lòng, môi nhắp nhắp cười, cười hạnh phúc rạng rỡ. Còn bà nội như gặp quân thù, hai tay đỡ sẵn dưới thân tôi, chỉ sợ mẹ lên cơn điên, quăng tôi đi như quăng rác. Mẹ ôm tôi chưa được ba phút, bà nội không đợi được giằng tôi trở lại, rồi vào nhà cài chặt then cửa. Khi tôi bắt đầu lờ mờ hiểu biết một chút, tôi mới biết được, ngoài tôi ra, bọn trẻ chơi cùng tôi đều có mẹ. Tôi tìm cha đòi, tìm bà đòi, họ đều nói, mẹ tôi chết rồi. Nhưng bọn bạn cùng làng đều bảo tôi: 
- Mẹ mày là một con điên, bị bà mày đuổi đi rồi". 

Tôi tìm bà nội vòi vĩnh, đòi bà phải trả mẹ lại, còn chửi bà là đồ "bà lang sói", thậm chí hất tung mọi cơm rau bà bưng cho tôi. Ngày đó, tôi làm gì biết "điên" nghĩa là cái gì đâu, tôi chỉ cảm thấy nhớ mẹ tôi vô cùng, mẹ trông như thế nào nhỉ? mẹ còn sống. 

Không ngờ, năm tôi sáu tuổi, mẹ tôi trở về sau 5 năm lang thang. Hôm đó, mấy đứa nhóc bạn tôi chạy như bay tới báo: 
- "Thụ, mau đi xem, mẹ mày về rồi kìa, mẹ bị điên của mày về rồi!" 

Tôi mừng quá, đít nhổng nhổng, co giò chạy vội ra ngoài, bà nội và cha cũng chạy theo tôi. Ðây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy mẹ, kể từ khi biết nhớ. Người đàn bà đó vẫn áo quần rách nát, tóc tai còn những vụn cỏ khô vàng khè, có trời mới biết là do ngủ đêm trong đống cỏ nào. Mẹ không dám bước vào cửa, nhưng mặt hướng về phía nhà tôi, ngồi trên một hòn đá cạnh ruộng lúa trước làng, trong tay còn cầm một quả bóng bay bẩn thỉu. 

Khi tôi và lũ trẻ đứng trước mặt mẹ, mẹ cuống cuồng nhìn trong đám chúng tôi tìm con trai mẹ. Cuối cùng mẹ dán chặt mắt vào tôi, nhìn tôi chòng chọc, nhếch mép bảo: 
- "Thụ... bóng... bóng...". 

Mẹ đứng lên, liên tục giơ lên quả bóng bay trong tay, dúi vào tôi với vẻ lấy lòng. Tôi thì liên tục lùi lại. Tôi thất vọng ghê gớm, không ngờ người mẹ ngày đêm tôi nhớ thương lại là cái hình người này. Một thằng cu đứng cạnh tôi kêu to: 
- "Thụ, bây giờ mày biết con điên là thế nào chưa? Là mẹ mày như thế này đấy!". 

Tôi tức tối đáp lại nó: 
- "Nó là mẹ mày ấy! Mẹ mày mới là con điên ấy, mẹ mày mới là thế này!" 
Tôi quay đầu chạy trốn. Người mẹ bị điên này tôi không thèm. Bà nội và bố thì lại đưa mẹ về nhà. Năm đó, bà nội đuổi mẹ đi rồi, lương tâm bà bị chất vấn dày vò, bà càng ngày càng già, trái tim bà cũng không còn sắt thép được nữa, nên bà chủ động đưa mẹ về, còn tôi lại bực bội, bởi mẹ đã làm tôi mất thể diện. 

Tôi không bao giờ tươi tỉnh với mẹ, chưa bao giờ chủ động nói với mẹ, càng không bao giờ gọi "Mẹ!", khi phải trao đổi với mẹ, tôi gào là chủ yếu, mẹ không bao giờ dám hé miệng. 

Nhà không thể nuôi không mẹ mãi, bà nội quyết định huấn luyện cho mẹ làm việc vặt. Khi đi làm đồng, bà nội dắt mẹ đi "quan sát học hỏi", bà bảo mẹ không nghe lời sẽ bị đánh đòn. Sau một thời gian, bà nội nghĩ mẹ đã được dạy dỗ tương đối rồi, liền để mẹ tự đi cắt cỏ lợn. Ai ngờ mẹ chỉ cắt nửa tiếng đã xong cả hai bồ "cỏ lợn". Bà nội vừa nhìn đã tá hỏa sợ hãi, cỏ mẹ cắt là lúa giống vừa làm đòng trỗ bông trong ruộng nhà người ta. Bà nội vừa sợ vừa giận phát cuồng chửi rủa: 
- "Con mẹ điên, lúa và cỏ mà không phân biệt được..." 

Bà nội còn đang chưa biết nên xoay xở ra sao, thì nhà có ruộng bị cắt lúa tìm tới, mắng bà cố ý dạy con dâu làm càn. Bà nội tôi lửa giận bốc phừng phừng, trước mặt người ta lấy gậy đánh vào eo lưng con dâu, chửi: 
- "Ðánh chết con điên này, mày cút ngay đi cho bà..." 
Mẹ tuy điên, nhưng vẫn biết đau, mẹ nhảy nhỏm lên chạy trốn đầu gậy, miệng phát ra những tiếng lắp bắp sợ hãi: "Ðừng... đừng...". Sau rồi, nhà người ta cũng cảm thấy chướng mắt, chủ động bảo: 
- "Thôi, chúng tôi cũng chẳng bắt đền nữa. Sau này giữ cô ta chặt một tí là được...". 

Sau khi cơn sóng gió qua, mẹ oại người dưới đất thút thít khóc. Tôi khinh bỉ bảo: 
- "Cỏ với lúa mà cũng chả phân biệt được, mày đúng là lợn!" 

Lời vừa dứt, gáy tôi bị một cái tát lật. Là bà… Bà trừng mắt bảo tôi: 
- "Thằng ngu kia, mày nói cái gì đấy? Mày còn thế này nữa? Ðấy là mẹ mày đấy!" 
Tôi vùng vằng bĩu môi: 
-"Cháu không có loại mẹ điên khùng thế này!". 
- "A, mày càng ngày càng láo. Xem bà có đánh mày không!". 
Bà nội lại giơ tay lên, lúc này chỉ thấy mẹ như cái lò xo bật từ dưới đất lên, che giữa bà nội và tôi, mẹ chỉ tay vào đầu mẹ, kêu thảng thốt: 
- "Ðánh tôi, đánh tôi!". 

Tôi hiểu rồi, mẹ bảo bà nội đánh mẹ, đừng đánh tôi. Cánh tay bà trên không trung thõng xuống, miệng lẩm bẩm: 
- "Con mẹ điên này, trong lòng nó cũng biết thương con đây!"…

Tôi vào lớp một, cha được một hộ chuyên nuôi cá làng bên mời đi canh hồ cá, mỗi tháng lương 50 tệ. Mẹ vẫn đi làm ruộng dưới sự chỉ bảo của bà, chủ yếu là đi cắt cỏ lợn, mẹ cũng không còn gây ra vụ rầy rà nào lớn nữa. Nhớ một ngày mùa đông đói rét năm tôi học lớp ba, trời đột ngột đổ mưa, bà nội sai mẹ mang ô cho tôi. Có lẽ trên đường đến trường tôi mẹ đã ngã ì oạch mấy lần, toàn thân trông như con khỉ lấm bùn, mẹ đứng ở ngoài cửa sổ lớp học nhìn tôi cười ngớ ngẩn, miệng còn gọi tôi: "Thụ... ô...". 

Có mấy đứa bạn tôi cười khúc khích, tôi như ngồi trên bàn chông, oán hận mẹ khủng khiếp, hận mẹ không biết điều, hận mẹ làm tôi xấu hổ, càng hận thằng Hỷ cầm đầu trêu chọc.

Trong lúc nó còn đang khoa trương bắt chước mẹ, tôi chộp cái hộp bút trước mặt, đập thật mạnh cho nó một phát, nhưng bị thằng Hỷ tránh được. Nó xông tới bóp cổ tôi, chúng tôi giằng co đánh nhau. Tôi nhỏ con, vốn không phải là đối thủ của nó, bị nó dễ dàng đè xuống đất. Lúc này, chỉ nghe một tiếng "vút" kéo dài từ bên ngoài lớp học, mẹ giống như một đại hiệp "bay" ào vào, một tay tóm cổ thằng Hỷ, đẩy ra tận ngoài cửa lớp. Ai cũng bảo người điên rất khỏe, thật sự đúng là như vậy. Mẹ dùng hai tay nhấc bổng thằng bắt nạt tôi lên trên không trung, nó kinh sợ kêu khóc gọi bố mẹ, một chân béo ị khua khoắng đạp loạn xạ trên không trung. Mẹ không thèm để ý, vứt nó vào ao nước cạnh cổng trường, rồi mặt thản nhiên, mẹ đi ra. 

Mẹ vì tôi gây ra đại họa, mẹ lại làm như không có việc gì xảy ra. Trước mặt tôi, mẹ lại có vẻ khiếp nhược, nhìn tôi vẻ muốn lấy lòng. Tôi hiểu ra đây là tình yêu của mẹ, dù đầu óc mẹ không tỉnh táo, thì tình yêu của mẹ vẫn tỉnh táo, vì con trai của mẹ bị người ta bắt nạt. 

Lúc đó tôi không kìm được kêu lên: "Mẹ!" đây là tiếng gọi đầu tiên kể từ khi tôi biết nói. Mẹ sững sờ cả người, nhìn tôi rất lâu, rồi y hệt như một đứa trẻ con, mặt mẹ đỏ hồng lên, cười ngớ ngẩn.

Hôm đó, lần đầu tiên hai mẹ con tôi cùng che một cái ô về nhà. Tôi kể sự tình cho bà nội nghe, bà nội sợ rụng rời ngã ngồi lên ghế, vội vã nhờ người đi gọi cha về. 

Cha vừa bước vào nhà, một đám người tráng niên vạm vỡ tay dao tay thước xông vào nhà tôi, không cần hỏi han trắng đen gì, trước tiên đập phá mọi bát đũa vò hũ trong nhà nát như tương, trong nhà như vừa có động đất cấp chín. Ðây là những người do nhà thằng Hỷ nhờ tới, bố thằng Hỷ hung hãn chỉ vào cha tôi nói: 
- "Con trai tao sợ quá đã phát điên rồi, hiện đang nằm nhà thương. Nhà mày mà không mang 1000 tệ trả tiền thuốc thang, tao cho một mồi lửa đốt tan cái nhà mày ra". 

Một nghìn tệ? Cha đi làm một tháng chỉ 50 tệ! Nhìn những người sát khí đằng đằng nhà thằng Hỷ, cha tôi mắt đỏ lên dần, cha nhìn mẹ với ánh mắt cực kỳ khủng khiếp, một tay nhanh như cắt dỡ thắt lưng da, đánh tới tấp khắp đầu mặt mẹ. Một trận lại một trận, mẹ chỉ còn như một con chuột khiếp hãi run rẩy, lại như một con thú săn đã bị dồn vào đường chết, nhảy lên hãi hùng, chạy trốn, cả đời tôi không thể quên tiếng thắt lưng da vụt lạnh lùng lên thân mẹ và những tiếng thê thiết mẹ kêu. 

Sau đó phải trưởng đồn cảnh sát đến ngăn bàn tay bạo lực của cha. Kết quả hoà giải của đồn cảnh sát là: Cả hai bên đều có tổn thất, cả hai không nợ nần gì nhau cả. Ai còn gây sự sẽ bắt luôn người đó. Ðám người đi rồi, cha tôi nhìn khắp nhà mảnh vỡ nồi niêu bát đũa tan tành, lại nhìn mẹ tôi vết roi đầy mình, cha tôi bất ngờ ôm mẹ tôi vào lòng khóc thảm thiết. 
- "Mẹ điên ơi, không phải là tôi muốn đánh mẹ, mà nếu như tôi không đánh thì việc này không thể dàn xếp nổi, nhà mình làm gì có tiền mà đền cho người. Bởi nghèo khổ quá mà thành họa đấy thôi!". 

Cha lại nhìn tôi nói: 
- "Thụ, con phải cố mà học lên đại học. Không thì, nhà ta cứ bị người khác bắt nạt suốt đời, nhé!". 

Tôi gật đầu, tôi hiểu…
Mùa hè năm 2000, tôi thi đỗ vào trung học với kết quả xuất sắc. Bà nội tôi vì làm việc cực nhọc cả đời mà mất trước đó, gia cảnh ngày càng khó khăn hơn. Cục Dân Chính khu tự trị Ân Thi (Hồ Bắc) xếp nhà tôi thuộc diện đặc biệt nghèo đói, mỗi tháng trợ cấp 40 tệ. Trường tôi học cũng giảm bớt học phí cho tôi, nhờ thế tôi mới có thể học tiếp. 

Vì học nội trú, bài vở nhiều, tôi rất ít khi về nhà. Cha tôi vẫn đi làm thuê 50 tệ một tháng, gánh tiếp tế cho tôi đặt lên vai mẹ, không ai thay thế được. Mỗi lần bà thím nhà bên giúp nấu xong thức ăn, đưa cho mẹ mang đi. Hai mươi ki lô mét đường núi ngoằn ngoèo ruột dê làm khổ mẹ phải tốn sức ghi nhớ đường đi, gió tuyết cũng vẫn đi. Và thật là kỳ tích, hễ bất cứ việc gì làm vì con trai, mẹ đều không điên tí nào. Ngoài tình yêu mẫu tử ra, tôi không còn cách giải thích nào khác. Y học cũng nên giải thích khám phá hiện tượng này. 

27/4/2003, lại là một Chủ nhật, mẹ lại đến, không chỉ mang đồ ăn cho tôi, mẹ còn mang đến hơn chục quả đào dại. Tôi cầm một quả, cắn một miếng, cười hỏi mẹ: 
- "Ngọt quá, ở đâu ra?" 
Mẹ nói: 
- "Tôi... tôi hái..." không ngờ mẹ tôi cũng biết hái cả đào dại, tôi chân thành khen mẹ: 
- "Mẹ, mẹ càng ngày càng tài giỏi!". Mẹ cười hì hì. 

Trước lúc mẹ về, tôi theo thói quen dặn dò mẹ phải cẩn thận an toàn, mẹ ờ ờ trả lời. Tiễn mẹ xong, tôi lại bận rộn ôn tập trước kỳ thi cuối cùng của thời phổ thông. Ngày hôm sau, khi đang ở trên lớp, bà thím vội vã chạy đến trường, nhờ thầy giáo gọi tôi ra ngoài cửa. Thím hỏi tôi, mẹ tôi có đến đưa tiếp tế đồ ăn không? Tôi nói đưa rồi, hôm qua mẹ về rồi. Thím nói: 
- "Không, mẹ mày đến giờ vẫn chưa về nhà!" 

Tim tôi thót lên một cái, mẹ tôi chắc không đi lạc đường? Chặng đường này mẹ đã đi ba năm rồi, có lẽ không thể lạc được. Thím hỏi: 
- "Mẹ mày có nói gì không?"

Tôi bảo không, mẹ chỉ cho cháu chục quả đào tươi. Thím đập hai tay:
- "Thôi chết rồi, hỏng rồi, có lẽ vì mấy quả đào dại rồi!" 
Thím kêu tôi xin nghỉ học, chúng tôi đi men theo đường núi về tìm. Ðường về quả thực có mấy cây đào dại, trên cây chỉ lơ thơ vài quả cọc, bởi nếu mọc ở vách đá mới còn giữ được quả. Chúng tôi cùng lúc nhìn thấy trên thân cây đào có một vết gãy cành, dưới cây là vực sâu trăm thước. Thím nhìn tôi rồi nói: 
- "Chúng ta đi xuống khe vách đá tìm!" 
Tôi nói: 
- "Thím, thím đừng doạ cháu...". 

Thím không nói năng kéo tôi đi xuống vách núi... 
Mẹ nằm yên tĩnh dưới khe núi, những trái đào dại vương vãi xung quanh, trong tay mẹ còn nắm chặt một quả, máu trên người mẹ đã cứng lại thành đám màu đen nặng nề. Tôi đau đớn tới mức ngũ tạng như vỡ ra, ôm chặt cứng lấy mẹ, gọi: 
- "Mẹ ơi, Mẹ đau khổ của con ơi! Con hối hận đã nói rằng đào này ngọt! Chính là con đã lấy mạng của mẹ... Mẹ ơi, mẹ sống chẳng được hưởng sung sướng ngày nào..."

Tôi sát đầu tôi vào khuôn mặt lạnh cứng của mẹ, khóc tới mức những hòn đá dại trên đỉnh núi cũng rớt nước mắt theo tôi. 

Ngày 7/8/2003, một trăm ngày sau khi chôn cất mẹ, thư gọi nhập học dát vàng dát bạc của Ðại học Hồ Bắc đi xuyên qua những ngả đường mẹ tôi đã đi, chạy qua những cây đào dại, xuyên qua ruộng lúa đầu làng, "bay" thẳng vào cửa nhà tôi. 
Tôi gài lá thư đến muộn ấy vào đầu ngôi mộ cô tịch của mẹ: 
- "MẸ, con đã có ngày mở mặt mở mày rồi, MẸ có nghe thấy không? MẸ có thể ngậm cười nơi chín suối rồi!"