Hiển thị các bài đăng có nhãn kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 26 tháng 3, 2013

Ngược lại với Hoa Kỳ


- Một giáo viên ở Phần Lan giải thích tại sao hệ thống trường học ở đất nước này lại tốt nhất thế giới: "Chúng tôi trả lương cho giáo viên ngang với bác sĩ, học viên được nghỉ giải lao một tiếng đồng hồ và không có bài kiểm tra bắt buộc; ngược lại với Hoa Kỳ"


-Tổng thống Bồ Đào Nha giải thích tại sao nước này giảm được nửa số người nghiện thuốc phiện: "Chúng tôi không kỳ thị các loại ma túy, và coi đó là vấn đề của Sức khỏe Cộng đồng thay vì là loại tội phạm; ngược lại với Hoa Kỳ"

- Tổng thống Iceland giải thích cách đất nước này phục hồi nhanh chóng sau thời kỳ ngưng trệ: "Chúng tôi bảo đảm quyền lợi cho người dân và bắt giam những tội phạm tài chính; ngược lại với Hoa Kỳ và hầu hết các nước Châu Âu đang làm


Chuyển dịch bởi BookHunter

Thứ Hai, 25 tháng 3, 2013

Quên Síp đi, Nhật Bản mới là cuộc khủng hoảng thực


Trước chính sách nới lỏng tiền tệ của Hoa Kỳ và tạo nên một cuộc chạy đua tiền tệ, thì chính phủ NB đã hành động để thoát khỏi kịch bản giảm phát 23 năm qua họ vẫn dùng.

Việc in tiền kích thích kinh tế này của Nhật Bản có khả năng dẫn tới một cuộc chiến tiền tệ.

Con quái vật kích thích kinh tế đang khởi động

Boj quyết định tung ra 101 nghìn tỷ yên để mua trái phiếu chính phủ trong tay các tổ chức tư nhân và như vậy chính họ đang dùng cách tạo ra tiền từ không khí

Việc quyết định như trên là NB dựa trên những tín hiệu khả quan của nền kinh tế HK khi gói QE được tung ra, thêm nữa là chính sách thắt lưng buộc bụng của Châu Âu đang áp dụng và không cho thấy sự hiệu quả, và NB chưa bao giờ cố gắng kích thích kinh tế bằng giảm phát nên họ cần phải hành động theo HK.


Nhưng nhìn vào những bảng biểu sau thì cách nhìn nhận trên là có vấn đề



EU tuy nói rằng thắt lưng buộc bụng như thực chất họ vẫn bội chi ngân sách, và số nợ của họ vẫn tăng lên
Chính sách thắt lưng buộc bụng chỉ thực sự làm việc tại Châu Á những năm 97 98 khi khủng hoảng kinh tế mang lại sự mất mát to lớn cho các nước Châu Á.

Và thực sự thì NB chưa bao giờ cho thấy tín hiệu lạc quan khi nới lỏng tiền tệ: Trong những năm 2001 2006 lượng tiền cơ bản tăng lên 82% những thực tế thì nền kinh tế vẫn không được hồi sinh 

Nợ của Chp NB hiện nay là 245 %GDP, nợ quốc gia là 500%GDP, NB có 2 lựa chọn: Hoặc giảm chi tiêu hoặc in nhiều tiền hơn đê trả nợ.

Và họ chọn cách thứ 2, cũng như nhiều nền kinh tế đang làm, biện pháp này sẽ dẫn đến kết quả thậm chí còn đau đớn và kéo dài hơn.

Việc này sẽ khiến cho đồng Yen mất giá so với đồng dollar.

Và hệ quả là các nước tiếp theo sẽ thực hiện chính sách như NB để trả đũa, khi đó 1 cuộc chiến tranh tiền tệ thực sự bắt đầu. 

Thứ Hai, 11 tháng 3, 2013

Cảnh báo: nền kinh tế toàn cầu đã chính thức tiến tới sụp đổ và cuộc đua tiền tệ tới đáy sẽ khiến cho mọi người đều thua cuộc ngoại trừ các nhà băng


Những điều mới mẻ sẽ đến với chúng ta trong năm mới này. Các bạn đọc tại website của tôi đã biết được rằng tôi đề cập đến một cuộc chiến tranh tiền tệ đã một vài lần. Bạn cũng biết rằng trong chương trình phỏng vấn trên kênh radio Hagmann và Hagmann ngày 11/01/2013 tôi đã chỉ rõ sự chao đảo sắp tới của Nhật Bản, nền kinh tế này sẽ đổ sập xuống và đẩy họ vào tình trạng chiến tranh với Trung Quốc. Tôi cũng đã đưa ra thông tin chi tiết về những thỏa thận bí mật giữa Cục Dự trữ liên bang Hoa Kỳ và các ngân hàng Châu Âu. Vì vậy, câu hỏi đặt ra là: chúng ta đang ở vị trí nào ngày hôm nay? Vâng, những điều hài hước này sẽ là những gì tôi muốn bạn chú ý trong vòng vài tuần tới:

1. Nền kinh tế/tiền tệ Nhật bản sẽ tan chảy.

2. Khu vực Châu Âu sẽ tập trung vào nền kinh tế Đức. Với mục đích chống đỡ tỷ giá đồng Euro so với đồng USD trong khi quả bóng kinh tế thế giới đang xì hơi thì những công chức điều hành Châu Âu sẽ thổi phồng nền kinh tế này và dập tắt khả năng xuất khấu của chính họ, “and the economy of the only country left standing in that socialist cessation pit”; nước Đức. Hãy quan sát làn sóng của cuộc cách mạng mùa xuân sẽ nổi lên với nhịp điệu nhanh hơn cả vũ điệu Polka tháng 10. Đây là thời điểm mà những nhà tư bản công nghiệp nước Đức sẽ được thấy nỗi sợ hãi trong sự thảm sát đẫm máu.

3. Thời gian đang tiến tới cuộc chiến tranh tiền tệ…giá của kim loại quý sẽ tăng lên với tốc độ chóng mặt. Bởi vì Washington gặp phải vấn đề sau: niềm tin vào tín phiếu bị hủy hoại nhanh đến mức mà ảo ảnh đồng Dollar Mỹ như một nơi trú ẩn an toàn sẽ biến thành ác mộng, tâm lý bầy đàn sẽ thúc bạn lao vào sự trú ẩn trong đồng tiền kim loại.

4. Hãy đầu tư vào nó khi đang có giá. Bạc vẫn tiếp tục là mặt hàng bán chạy, cũng như bạch kim và palladia sẽ là ưu tiên đầu tư trong năm 2013. Và cuộc chiến tiền tệ sẽ thúc đẩy mọi người tìm kiếm chúng như một pháo đài chắc chắn cho tài sản của họ.

5. Hack nhà băng: tôi không cường điệu hóa việc bạn nên rút toàn bộ tài khoản khỏi ngân hàng ngay lúc này. Những thông tin gần đây về việc tin tặc hack hệ thống và người tiêu dùng nhận được tin nhắn “máy chủ tạm ngừng hoạt động để bảo trì” nhà băng chính là phép thử cho sự kiện thực sự kéo dài và khi đó đã là quá muộn cho bạn hành động.

Hãy chú ý vào những điều sắp xảy ra trong vài tuần tới…và nghe lại chương trình phát thanh Hagmann giữa tôi và Steve Quayle vào ngày 11/01/2013.

Thứ Năm, 7 tháng 2, 2013

10 dấu hiệu cho biết chúng ta đang ở trong một nền kinh tế giả mạo


Lê Duy chuyển ngữ, CTV Phía Trước

(Mượn góc nhìn về thực trạng nền Kinh tế Mỹ để cùng suy ngẫm về kinh tế Việt Nam)
Đã tới lúc phải thừa nhận rằng chúng ta đang sống trong một nền kinh tế giả tạo. Truyền thông được sử dụng để làm cho chúng ta tưởng rằng mình đang có một nền kinh tế khỏe mạnh.
Cùng lúc với việc các nhà chính trị gia vỗ về nhân dân bằng những dự đoán chắc như đinh đóng cột về sự khởi sắc của nền kinh tế, chúng ta phải liên tiếp đón nhận những tin không vui từ các thống kê tài chính và về sự kém cỏi của các tập đoàn trọng điểm quốc gia đang đứng trên bờ vực phá sản vì nợ nần chồng chất. Đáng buồn tức hơn nữa là chính phủ lại muốn dùng những đồng tiền thuế từ mồ hôi và nước mắt của người dân để cứu chính những tập đoàn mà đã đưa nền kinh tế đến với sự khủng hoảng
Hàng ngày, chúng ta nghe thấy người người vẫn đang vất vả với hi vọng mong manh tìm kiếm việc làm, dù cho phải làm những công việc trái với ngành được đào tạo. Các chính trị gia vẫn với giọng điệu chắc nịch hứa hẹn sẽ có việc, nhưng chính trị gia thì không thể nào tạo ra được việc làm. Nhìn thấy cả dòng người xếp hàng hay dựng trại ở bên ngoài những siêu thị lớn vào các ngày có chương trình khuyến mãi như thứ Sáu ngày mười 13, hay trong các khung giờ vàng làm cho chúng ta tưởng rằng mình vẫn đang sống trong một nền kinh tế cường thịnh. Nhưng đau buồn thay hóa ra tất cả sản phẩm không được mua bằng tiền thật mà bởi thẻ tín dụng – mua nợ.

Các tin tức trên mạng, trên truyền hình, trên báo hay trên đài đều có chung một mục đích đó là làm mờ đi đôi mắt của chúng ta. Một người như Kim Kardashian – bắt đầu nổi tiếng vào năm 2007 khi kiện Vivid Entertainment vì đã phát hành video cô làm tình với rapper Ray J bốn năm trước đó, đã chiếm được sự ưu ái của trang báo điện từ Huffington Post khi cô được lên trang nhất của tờ báo này chỉ vì con mèo cưng của cô bị chết. Có lẽ chẳng cần phải bàn luận thêm
Trong khi đó, những bản tin tài chính luôn làm cho chúng ta cảm thấy nền kinh tế thật phức tạp và không một ai được phép nói sự thật về tình hình kinh tế đất nước hiện nay trong các bản tin đó
Liệu bạn có đang bực bội hay phân vân một chút nào đó về nền kinh tế của chúng ta
Vậy thì hi vọng những dấu hiệu về một nền kinh tế giả tạo sau đây sẽ giúp bạn làm sáng tỏ được những phân vân mà bạn đang có.
Việc giả: Không chỉ những con số thống kê tỉ lệ thất nghiệp là giả, mà các công việc hiện hành cũng là giả nốt. Trong số hàng ngàn công việc chúng ta đang làm, liệu bao nhiêu thực sự mang lại giá trị cho cuộc sống của loài người trên trái đất? Một con số nghiên cứu cho thấy 80% loại việc hiện hành có thể biến mất vào ngày mai mà không ảnh hưởng chút nào tới sự tồn tại hay hạnh phúc của con chúng ta. Do phương thức quản lý yếu kém, nhiều khi hàng hóa từ nhà sản xuất tới tay người tiêu dùng phải trải qua một hệ thống phấn phối trung gian cồng kềnh và nặng nề, làm cho giá cả bị đội lên rất nhiều so với giá xuất xưởng của chúng. Nhiều công việc trong hệ thống đó chẳng hề mang lại chút lợi ích gì cho xã hội loài người. Chúng ta sẽ hiểu rõ hơn về điểm này ở ý tiếp theo.
Vấn đề – chứ không phải giải pháp, tạo ra việc làm: Chúng ta không thể giải quyết những vấn đề thực sự bởi vì điều đó sẽ lại làm giảm công ăn việc làm trong xã hội. Không thể chấm dứt chiến tranh và mang những người lính đang trên chiến trường trở về nhà khi mà tỉ lệ thất nghiệp đã tương đối cao. Chúng ta cũng không thể chấm dứt cuộc chiến tranh chống buôn lậu ma túy và các hàng thuốc cấm vì điều đó sẽ làm cho hàng ngàn nhân viên DEA [Drug Enforcement Administration], giám ngục nhà tù của hệ thống luật pháp, nhân viên cảnh sát đi tuần, và toàn bộ những ai đang làm việc để giúp đỡ họ. Chúng ta cũng không thể đơn giản hóa hệ thống thuế má vì sẽ làm cho những nhân viên trông coi sổ sách, giáo viên dạy kế toán, luật sư ngành thuế và nhiều người có nghề liên quan bị thất nghiệp. Chúng ta cũng không thể đơn giản hóa bộ máy quản lý nhà nước hay hệ thống y tế quốc gia vì những nhân viên văn phòng đang phục vụ cho các hệ thống này hiện tại không có những kỹ năng đáng kể nào khác mà có thể mang lại lợi ích cho xã hội. Chúng ta không thể dừng lại việc giám sát người dân vì điều đó có thể làm cho hàng triệu người khác nữa thất nghiệp. Sau cùng, điều gì sẽ xảy ra đối với các trường đại học khi mà sinh viên nhân ra rằng những tấm bằng tốt nghiệp của họ không xứng đáng với cái giá mà họ đã bỏ ra, hoặc là khi mà chính các sinh viên nhận ra rằng họ có thể học được kiến thức tương tự như học ở đại học mà không mất một đồng nào từ Internet. Nói một cách khác, chúng ta đang sống trong một xã hội tự tạo ra vấn đề để mà sinh ra những việc làm – những công việc chẳng mang lại lợi ích thực sự gì cho xã hội.
Đồng tiền không có giá trị: Đồng tiền chính là thứ ảo tưởng nhất mọi thời đại. Tiền mà chúng ta đang dùng là được vay từ các tập đoàn độc quyền tư nhân với lãi suất một cách ngẫu nhiên do họ tự đặt ra. Chúng ta vay họ để dùng và chúng ta mang nợ. Đã có nợ thì phải trả trừ khi luật pháp có sự thay đổi nào đó. Những đồng tiền này có giá trị chính bởi vì luật pháp quy định như thế, và giá trị của đồng tiên thì lên xuống theo lượng sản phẩm được cung ứng bởi những tập đoàn độc quyền trên. Giá trị thực sự của tiền chỉ là con số không vì nó chỉ là một tờ giấy với những hoa văn mỹ miều được in lên. Những thứ mang lại giá trị thực sự cho con người đó là sức lao động, công cụ, tài nguyên, thực phẩm, nước và năng lượng chứ không phải tiền. 
Cục Dữ trữ Liên bang nay đã mua tới 90% nợ quốc gia: Cục Dự trữ Liên bang đã cho chính phủ vay tiền thông qua việc mua trái phiếu nhà nước. Chính phủ Mỹ đã phát hành trái phiếu trên thị trường tự do thông qua hình thức đấu giá. Những ai tin tưởng và khả năng phát triển kinh tế của chính phủ thì sẽ bỏ tiền ra mua những trái phiếu trên và hưởng lãi theo kỳ hạn. Rõ ràng hiện nay chẳng còn mấy người muốn đầu tư cho bộ máy của Obama khi nhìn vào kết quả đấu giá là 90% số trái phiếu được phát ra được mua lại bởi chính Cục Dữ trữ Liên bang. Cách thức làm này của chính phủ Mỹ chẳng khác gì cách làm của chùm lừa gạt đầu tư Madoff. Bằng cách này, lãi suất có thể bị giữ ở mức thấp và rồi được đẩy lên để thu hút các nhà đầu tư bên ngoài. Theo như thuật ngữ phổ thông thì toàn bộ hệ thống tài chính của chúng ta chỉ như một con hổ giấy, một con cá gỗ hay bất cứ từ nào khác bạn muốn dùng để ám chỉ một thứ giả tạo.
Làm thế nào để xác định được giá trị của một đồ vật? Quá trình xác định giá trị của một mặt hàng nào đó trên thị trường đã trở nên rất phức tạp và việc định giá chính xác cho một vật phẩm nào đó đã trở nên gần như không thể. Giữa vòng vây của: sản phẩm được chính phủ trợ giá như thực phẩm, xăng dầu, giáo dục, nhà đất, bảo hiểm và thậm chí cả xe hơi; thuế, quy định và pháp luật; lợi dụng đồng tiền và tỉ lệ lãi suất; việc Wall Street đánh bạc với đồng tiền của các nhà đầu tư; thì liệu chúng ta còn có thể biết được giá trị thật của các vật phẩm nữa hay không? Ví dụ, tại sau một lạng marijuana (cần sa – một loại cỏ có thể mọc ở bất cứ đâu) lại có thể có giá lên tới 1.700 USD? Liệu đó có phải là giá trị thực sự của nó dựa trên công sức lao động bỏ ra và dựa trên quy luật cung cầu? Tất nhiên là không phải, giá trị của nó đã bị lạm phát lên bởi vì pháp luật và các quy định hiện hành.
Thất bại thì được tưởng thưởng: Chúng ta đang sống trong một nền kinh tế giả tạo mà ở đó sự thất bại lại được khen thưởng còn thành công thì bị xử phạt. Công dân ở trên toàn đất nước đều được khích lệ tiết kiệm và chăm chỉ làm việc để rồi bỏ tiền ra cứu vớt những chính phủ hủ bại, các ngân hàng, các công ty bảo hiểm và thậm chí là những công ty sản xuất ô tô kém cỏi. Và khi chúng ta chịu khó làm việc hơn và đạt được những thành công nhất định thì chính phủ đánh thuế nặng nề để trả tiền cho bộ máy chính quyền vô dụng. Tuy nhiên cách thu thuế vô biên này còn xa mới có thể giải quyết được vấn đề tận gốc. Thực tế là những phương án của các ngân hàng đưa ra mới chính là vấn đề, nó chỉ giúp làm giàu cho những nhà đầu tư của các ngân hàng bằng công sức của giai cấp trung lưu. Các tập đoàn ngân hàng toàn cầu đang chơi đùa ở các sòng bạc hoàng gia với những đồng thuế của người dân, cả những đồng tiền của rất nhiều thế hệ tương lai nữa. Và một sự thật đáng buồn là những sòng bạc này được tạo ra để họ luôn thất bại và rồi do đó họ có thể tiếp tục lấy tài sản của người dân. Mỗi ván chơi là được ăn cả ngã về không, nhưng mà tiền của họ thì là giả còn tài sản của chúng ta thì là thật. 
Các tập đoàn có cùng quyền lợi như người dân nhưng hình phạt thì khác: Khi Tòa án tối cao ban hành luật cho phép các tập đoàn có quyền lợi được tự do ngôn luận như con người, đó chính là một trong những cái đinh cuối cùng đóng vào quan tài của nền cộng hòa. Các tập đoàn giờ đây có thể tài trợ cho các cuộc bầu cử và mua chuộc những pháp chế cần thiết để họ có thể hoạt động mà không bị xử phạt. Tập đoàn có thể được cấu thành từ con người, nhưng nó không có cùng chuẩn nhân đạo như con người. Vấn đề này đã được lên án quyết liệt trong bài báo “Nếu BP là một con người thì thế nào?”. Theo như những gì được viết, nếu xét theo chuẩn mực đạo đức hiện nay và những định nghĩa hiện hành về tội ác thì BP đáng lẽ ra phải bị xử như một tên giết người biến thái và…bất tử. Và khi mà những tập đoàn này đều có mối quan hệ chặt chẽ với chính phủ, chúng ta có cần nên xem lại bộ máy lãnh đạo của chính mình? Bằng việc thay đổi định nghĩa, họ đang cố gắng đổi trắng thay đen. Nhưng cái kim trong bọc lâu ngày cũng phải lòi ra và sự thật thì luôn tìm cách lộ diện.
Người dân đang mua những thứ họ không cần bằng những đồng tiền họ không có: Sự chi tiêu thái quá của chính phủ đã có một phiên bản sao chép y hệt trong hành vi của người tiêu dùng Mỹ. Mặc cho lạm phát, mặc cho tỉ lệ thất nghiệp đang tăng và mặc cho sự sụp đổ của thị trường nhà đất, người dân Mỹ vẫn đang tiêu tiền mà họ không hề có từ những chiếc thẻ tín dụng điện tử. The Associated Press vừa đưa ra báo cáo cho biết trong tháng 10 năm 2012, người dân đã quét thẻ thường xuyên hơn và vay tiền nhiều hơn cho việc đi học và mua xe hơi. Sự lạm dụng này đã làm cho nợ của người tiêu dùng Mỹ trở nên cao nhất mọi thời đại. Cục Dự trữ Liên bang cho biết từ tháng 9 tới tháng 10, người dân Mỹ đã vay thêm tới 14.2 tỷ USD và hiện nay đã chạm mức 2.75 nghìn tỷ USD.
Việc vay tiền mua xe hơi hay đi học thực sự đáng lo ngại vì đây là những khoản đầu tư chỉ có lỗ.
Các nhà kinh doanh bị gán tội: Để có một cuộc sống đơn giản bằng chính đôi chân của bạn giờ đã trở nên gần như không thể. Nước Mỹ giờ đây là đất nước của nạn quan liêu, luôn muốn bóp ngạt những mô hình kinh doanh nhỏ và xử phạt sự tự cung tự cấp. Có lẽ không có ví dụ nào tốt hơn vì dụ về sự tấn công một mô hình trang trại tự cung ứng. Bằng cách viện lý lẽ từ Agenda 21, chính phủ đã đóng cửa những trang trại hộ gia đình bấy lâu nay hoạt động tốt đẹp và treo biển “khu vực được bảo vệ” lên đó. Trong trường hợp gần đây nhất, một trang trại nuôi trai lấy ngọc đã bị đóng cửa dựa trên những nghiên cứu khoa học và kết luận sai lầm. Điều này làm cho một mô hình kinh doanh đã 80 năm với 50.000 nghin khách du lịch mỗi năm và 30 công nhân làm việc full-time ở đây bị lâm vào cảnh bơ vơ. Trong nhiều trường hợp tương tự, một điều đau buồn đó là những khu trang trại do chính phủ cướp của người dân đã bị rơi vào tay những kẻ chẳng hề quan tâm gì tới nền kinh tế địa phương ở đó. Một trong những tính chất cố hữu của nền kinh tế giả tạo đó là tạo ra sự phụ thuộc trong khi đáng lẽ ra thì không nên có một chút nào.
Công nghiệp hóa nô lệ: Bạn nghĩ rằng nô lệ đã biến mất từ thế kỷ 19? Hãy nghĩ lại. Những tài phiệt đã thành công trong việc nô dịch hóa bằng nợ từ quốc gia này tới quốc gia khác, trong mọi lĩnh vực ngành nghề, các chính phủ bang cũng như địa phương và gần như tất cả mọi người dân trên thế giới. Họ đã mua chúng ta và biến chúng ta thành người hầu bởi những đồng tiền mà họ không hề có – họ chỉ đơn thuần hô “biến” và thế là tự nhiên họ có tiền để nô dịch chúng ta. Thậm chỉ một người không hề có liên quan hay dính lứu gì tới ngân hàng, không có thẻ tín dụng, thì họ cũng vẫn phải trả tiền cho Cục Dự trữ Liên bang thông qua lạm phát và thuế thu nhập. Tác giả của cuốn “Confessions of an Enonomic Hit Man”, John Perkins nhắc đi nhắc lại: Đã tới lúc những ngân hàng bóc lột tầng lớp trung lưu bằng cách tăng thuế, giảm dịch vụ công ích, và lấy đồng lương của bạn. Một ví dụ nữa rõ ràng hơn đó là việc bóc lột sức lao động của tù nhân. Luật pháp và quy định hiện hành được tạo ra là để lợi dụng sức lao động của tù nhân mà làm giàu cho những tập đoàn sở hữu các nhà tù đó, trong khi đó thì những cộng đồng địa phương thì trở nên ngèo hơn và nhiều nguy hiểm hơn.
George Carlin đã nói “Chúng ta gọi ‘Giấc mơ Mỹ’ là vì chỉ có mơ thì mới tin vào điều đó”. Có lẽ nếu như chúng ta chỉ sống trong một đất nước duy nhất thì sự tồi tệ đã dừng lại ở đó, nhưng chúng ta đang trải nghiệm một giấc mơ chung của toàn cầu về một chính phủ mà có thể xử lý mọi việc chỉ trong tích tắc. Tuy nhiên, trong thế giới thực chúng ta đang sống, sự sụp đổ đã thực sự bắt đầu. Từ nay tới lúc chúng ta quyết tâm không làm nô lệ nữa và xem xét 10 dấu hiệu đã nói ở trên, thì chúng ta sẽ mãi đắm chìm trong sự ảo tưởng mà thôi. May thay, đã có những dấu hiệu khả quan từ những cuộc biểu tình trên toàn cầu, những phong trào thay thế tiền tệ, và rất nhiều giải pháp sáng tạo tại những đất nước bị ảnh hưởng lớn nhất như Iceland, Greece, và Spain. Ở các nước này, người dân đã dần dần tỉnh giấc và soi vào gương để nhận ra rằng nền kinh tế mơ ước mà họ đã biết đã tạo ra nhằm làm cho họ lạc lối khi đi tìm giải pháp.
Nguồn: © Bản tiếng Việt TẠP CHÍ PHÍA TRƯỚC 2013

Thứ Hai, 4 tháng 2, 2013

Lời thú tội của một sát thủ kinh tế

20 năm sau khi viết cuốn "Lương tâm của một sát thủ kinh tế", John Perkins - một cựu sát thủ kinh tế (EHM) - đã phải chứng kiến những sự kiện kinh hoàng trên thế giới. Bản thân tác giả đã có lúc bị níu chân bởi "những lời đe dọa hay những khoản đút lót". Nhưng rồi, ông đã kiên quyết xuất bản nó. Bởi ông cho rằng: "Câu chuyện này phải được kể ra".
Là một trong số ít người được Cơ quan An ninh Quốc gia Hoa Kỳ bí mật tuyển mộ, John Perkins được cử tới những nơi có tầm chiến lược quan trọng, như Indonesia, Panama, Ecuado, Iran.... Ông và những người được tuyển mộ phục vụ lợi ích cho một lực lượng gọi là "tập đoàn trị" (hệ thống liên minh giữa chính phủ, các tập đoàn, các ngân hàng...). Hoạt động của bộ máy này đã biến một số ít người trở thành những người vô cùng giàu có, đồng thời đẩy hàng triệu con người vào tình cảnh bần cùng hóa và rơi vào tình trạng tuyệt vọng, đẩy thêm hố sâu chênh lệch giữa hai miền Nam - Bắc và là căn nguyên nảy nở cho chủ nghĩa khủng bố.
Trong cuốn sách, Perkins đã tường thuật lại những phi vụ và âm mưu tài chính - chính trị mà ông và các EHM nhúng tay vào, dẫn tới các vụ việc động trời trên chính trường quốc tế như: cái chết của hai vị Tổng thống Ecuado và Panama, sự sụp đổ của triều đại Sa tại Iran, cuộc xâm lược của Mỹ tại Panama và Iraq...
Bản chất của các sát thủ kinh tế
Từng là một EHM, John Perkins hiểu hơn ai hết: Thế nào là một sát thủ kinh tế, và nhiệm vụ của họ là gì. Ngay trong phần mở đầu, ông đã nêu rõ bản chất của EHM: "Những sát thủ kinh tế (EHMs) là những chuyên gia được trả lương hậu hĩnh để đi lừa các nước trên khắp thế giới lấy hàng nghìn tỷ đô la. Họ đổ tiền từ Ngân hàng Thế giới, Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) và các tổ chức "viện trợ" nước ngoài vào két sắt của các tập đoàn khổng lồ và vào các túi của một số ít các gia đình giàu có - những người đang nắm quyền kiểm soát các nguồn tài nguyên thiên nhiên của hành tinh này. Công cụ của họ là các báo cáo tài chính gian lận, những vụ bầu cử gian trá, các khoản hối lộ, tống tiền, tình dục và giết người. Họ diễn một trò cũ như chủ nghĩa đế quốc, song đã biến đổi theo chiều hướng mới đáng ghê sợ hơn trong thời đại toàn cầu hóa".

Công việc mà EHM thông thạo nhất, đó là "xây dựng nền đế chế toàn cầu". Các EHM xây dựng nên đế chế này bằng cách trói buộc các quốc gia bằng chính sợi dây kinh tế.
Ban đầu, các EHM khuyến khích các nhà lãnh đạo của các quốc gia trên thế giới tham gia vào một mạng lưới khổng lồ nhằm củng cố các lợi ích thương mại của Mỹ. Tuy nhiên, ngay sau đó, họ sẽ sa lầy vào những khoản nợ nần chồng chất. Phụ thuộc vào tài chính sẽ buộc cho các lãnh đạo này phải trung thành với Mỹ. Nhờ đó, Mỹ có thể đạt được các nhu cầu về quân sự, chính trị, hoặc kinh tế.
Đổi lại, các nhà lãnh đạo của quốc gia lại có thể củng cố địa vị chính trị bằng cách xây dựng nên "những khu công nghiệp, các nhà máy điện, và sân bay cho nhân dân của họ. Những ông chủ của các công ty kỹ thuật - xây dựng sẽ trở nên giàu có một cách khó tin".
Quy trình của "sát thủ"
John Perkins chỉ ra xảo thuật tinh vi khi tiến hành sát hại nền kinh tế của quốc gia khác (chủ yếu là các quốc gia kém phát triển) Trước tiên, EHM tận dụng tối đa các tổ chức tài chính quốc tế để trói buộc các quốc gia khác vào chế độ tập đoàn trị. Sau đó, EHM ban cho các quốc gia đó những "ân huệ". Những ân huệ này tồn tại dưới dạng các khoản vay để phát triển cơ sở hạ tầng.
Nhưng một mặt, EHM đặt điều kiện cho các khoản vay là: các công ty xây dựng của nước họ [tức là Mỹ] phải đảm nhiệm thi công các dự án. Như vậy, về bản chất, những đồng tiền (vốn để cho vay) chưa bao giờ rời khỏi nước Mỹ, mà chỉ đơn giản là luân chuyển từ túi của người Mỹ này sang người Mỹ khác.
Mặt khác, các quốc gia là "con nợ" thì vẫn phải trả tất cả số tiền mà họ đi "vay", cả tiền gốc và lãi. Chỉ vài năm sau, khi "lãi mẹ đẻ lãi con", các khoản vay sẽ quá tải và dẫn đến tuyên bố vỡ nợ của các nước đi vay. Khi đó, "giống như tổ chức Mafia", các EHM sẽ đòi nợ. "Việc đòi nợ này kèm theo một hoặc nhiều yêu cầu sau: kiểm soát những lá phiếu của Liên Hợp Quốc, thiết lập các căn cứ quân sự hoặc khai thác các nguồn tại nguyên quý giá như dầu hay kênh đào Panama". Trong khi đó, các nước mắc nợ vẫn nợ khoản tiền đó. Như vậy, John Perkins khẳng định: "một nước nữa rơi vào Đế chế toàn cầu".
Kết quả mà hệ thống Đế chế toàn cầu mang lại là: nạn bóc lột nhân công ở mức gần như biến họ thành nô lệ với điều kiện làm việc phi nhân đạo ở khu vực châu Á; nạn ô nhiễm môi trường - mà rốt cục, người nghèo là những người phải gánh chịu hậu quả nặng nề nhất; các nền văn hóa bị tiêu diệt; trong khi đó, những người châu Phi bị nhiễm HIV thì lại không được cung cấp thuốc men...
Còn với những người chống đối Đế chế toàn cầu? Kết cục với họ là vô cùng bi thảm. Điển hình nhất là cái chết của Jaime Roldós - Tổng thống Ecuado và Omar Torrijos - Tổng thống Panama. Cả hai vị lãnh đạo này đều thiệt mạng trong những vụ tai nạn thảm khốc và không hề "ngẫu nhiên". Chỉ bởi vì họ đã phản đối các "phe phái công ty, chính phủ và các trùm ngân hàng, những người có chung mục tiêu là thống trị toàn cầu". Chỉ bởi vì khi mà những sát thủ kinh tế không thể mua chuộc được họ, thì những tên sát nhân - những tên giết người thực sự của CIA - đã vào cuộc.
Tại sao khủng bố lại tấn công nước Mỹ?
Một số chính trị gia cho rằng: cuộc chiến chống khủng bố do Mỹ dẫn đầu là cuộc chiến vì các giá trị toàn cầu, "các giá trị phổ quát". Họ bao biện rằng họ phải chiến đấu vì các giá trị đó để bảo vệ "lối sống" của mình, đồng thời bất chấp nguyên nhân của khủng bố xuất phát từ đói nghèo, cố tình lờ đi bất công và khoảng cách giữa hai bờ Bắc - Nam trên phương diện kinh tế, xã hội.
Từ con mắt của một người từng làm EHM, John Perkins đã khẳng định ý niệm đó là hoàn toàn sai lầm. Tác giả chỉ rõ căn nguyên trong ý thức hệ của chủ nghĩa khủng bố xét từ phương diện kinh tế: "Những gì thực sự đang nuôi dưỡng hệ thống này còn nguy hiểm hơn cả âm mưu....đó là ý tưởng cho rằng mọi sự tăng trưởng kinh tế đều có lợi cho loài người và rằng càng tăng trưởng thì lợi ích càng lớn. Đức tin này cũng dẫn tới một hệ quả cho rằng, những người có khả năng tạo ra nguồn tăng trưởng phải được khen ngợi và trả công, còn những kẻ khốn cùng sinh ra là để bị bóc lột.
...Chúng ta biết rằng ở rất nhiều nước, tăng trưởng kinh tế chỉ đem lại lợi ích cho một bộ phận nhỏ người dân và thực ra là đẩy đa số những người còn lại đến bờ tuyệt vọng. Ảnh hưởng này còn sâu sắc hơn bởi một niềm tin tất yếu rằng những người lãnh đạo dẫn dắt toàn bộ hệ thống phải có một vị trí đặc biệt. Chính niềm tin này là gốc rễ của nhiều vấn đề mà hiện nay chúng ta đang phải đối mặt và có lẽ cũng là lý do tại sao lại có đầy rẫy các lý thuyết về âm mưu. Khi con người được thưởng vì lòng tham thì sự tham lam sẽ trở thành một động lực tồi tệ".
Chính bằng đó, chủ nghĩa khủng bố có được mảnh đất để dung dưỡng. Và hàng vô số con người trên khắp hành tin này đều là những tên khủng bố tiềm năng, bởi vì họ bị đẩy vào tình trạng "tuyệt vọng".
Sát hại nền kinh tế Ecuado
John Perkins đã lấy ra ví dụ điển hình từ việc sát hại nền kinh tế của Ecuado. Thèm khát biển dầu nằm dưới khu vực Amazon (được cho là có tiềm ngang với các mỏ dầu ở khu vực Trung Đông), các EHM đã mang lại cho Ecuado các dự án để rồi ngay sau đó, quốc gia này ngập chìm trong nợ nước ngoài. Và cách duy nhất để trang trải khoản nợ đó là Ecuado phải bán đi khu rừng nhiệt đới của họ cho các công ty dầu lửa.
Tác giả phân tích: "Ecuado là trường hợp điển hình của các nước trên thế giới đã được EHM đưa vào một nhóm có cùng lợi ích kinh tế - chính trị. Cứ 100 USD dầu thô lấy ra từ các khu rừng nhiệt đới của Ecuado thì có tới 75 USD rơi vào túi của các công ty dầu lửa. 25 USD còn lại sẽ dùng để trang trải chi phí quân sự và chi tiêu của chính phủ - trong đó khoảng 2.5 USD được chi cho y tế, giáo dục và các chương trình giúp đỡ người nghèo. Như vậy, cứ 100 USD dầu khai thác được tại khu vực Amazon sẽ chỉ có dưới 3 USD đến được với những người cần nó nhất - những người mà cuộc sống của họ bị ảnh hưởng xấu bởi những con đập, việc khoan dầu, các đường ống - và những người đang chết dần chết mòn do thiếu thức ăn và nước uống".
Tuy nhiên, Ecuador chỉ là một trong (vô) số các phi vụ mà các sát thủ kinh tế nhúng tay vào.... Trong cuốn sách, tác giả đã chỉ ra vai trò của các EHM (thông qua chính bản thân ông) trong các phi vụ và âm mưu tại Panama, tại Arập Xê út, Colombia, Iraq, và cả Osama bin Laden...
Nhận định về cuốn sách bán chạy nhất của New York Times
"Một cuốn sách cực kỳ chân thật và hấp dẫn" - Tờ tin tức The Rocky Mountain News
"Câu chuyện về một thế giới đầy rẫy những mưu đồ với sức lôi cuốn của một cuốn tiểu thuyết trinh thám... Đáng đọc" - Tạp chí Library Journal
"Một sự chấn động. Một trong số ít người dám thẳng thắn đứng ra vạch trần những bí mật bên trong cái guồng máy đế quốc giữa chính phủ và doanh nghiệp mà họ từng bám rễ trong nhiều năm. Một tác phẩm sâu sắc và một tấm lòng quả cảm". - John Er Mark, Giáo sư trường Đại học Harvard, tác giả cuốn "A Price of Our Disorder: The life of T. E Lawrence", được giải Pulitzer.
"Sự ly kỳ và hấp dẫn của một cuốn truyện trinh thám theo phong cách Graham Greene đã được Perkins kết hợp với cái nhìn xuyên suốt của một người trong cuộc để viết nên một câu chuyện có sức lay động, lột tả một cách hết sức chân thực nhân vật và sự kiện liên quan...". - David Korren, tác giả cuốn sách bán chạy nhất "When Corporations Rule the World".
"Thật tuyệt vời, chưa từng có... một câu chuyện mà bất kỳ ai quan tâm đến thế giới này đều phải đọc". - Lynne Twist, Nhà hoạt động toàn cầu, tác giả cuốn sách bán chạy nhất "The Sound of Money".
"Đầy thách thức và gây chấn động... cuốn sách này đã làm thức tỉnh người đọc, buộc họ phải nhìn nhận lại vai trò của bản thân, và vì thế thúc đẩy sự thay đổi". - R. Paul Shaw, Cựu kinh tế gia hàng đầu, hiện là Cố vấn chương trình, nhóm phát triển con người, Viện Ngân hàng Thế giới.
".... cái nhìn cực kỳ sắc sảo của một người trong cuộc về việc các công ty đa quốc gia đã trắng trợn cướp đoạt tiền của các nước nghèo thuộc thế giới thứ ba, hết nước này đến nước khác, một cách hợp pháp như thế nào". - Josh Mailman, đồng sáng lập The Threshold Foundation, Social Venture Network và Business for Social Responsibility.
"Dũng cảm đối diện với sự thật, Perkin đã kể về sự thức tỉnh lương tâm và cuộc đấu tranh để khoát khỏi cái thệ thống thối nát đang thống trị toàn cầu mà chính ông đã góp phần tạo nên. Cuốn sách.... xuất phát từ đáy lòng. Nó thực sự hấp dẫn" - Michael Browstein, tác giả cuốn World on Fire.
" Một câu chuyện lôi cuốn ... một người đàn ông can đảm và vô cùng tận tâm". - Stephan Rechtschaffen, Chủ tịch tổ chức Omega Institute, tác giả cuốn Timeshifting. (Theo NXB Văn Hóa - Thông tin)
(Tên sách: Lời thú tội của một sát thủ kinh tế -Nguyên văn tiếng Anh: Confessions of an Economic Hit Man; Tác giả: John Perkins - Người dịch: Lê Đồng Tâm - Nhà xuất bản: Văn hóa - Thông tin, giá bìa: 75.000 VND)

Thứ Sáu, 4 tháng 1, 2013

Tại sao cuộc khủng hoảng nợ toàn cầu là sự gian lận

Cuộc khủng hoảng nợ toàn cầu không có gì hơnlà  một trò gian lận vì nó được thiết kế bởi các ông chủ nhà băng - banksters. Nếu bạn muốn biết thêm thông tin hoặc bằng chứng về điều này, xin vui lòng đọc thông tin từ bài báo này. Các bankster thiết kế cuộc khủng hoảng nợ toàn cầu để họ có thể mua các công ty và ngân hàng với giá rẻ rồi hợp nhất chúng, theo đó họ có thể tạo ra một xã hội phát xít hay một chính phủ thế giới. Thật không may cho các bankster, chương trình nghị sự bí mật đen tối của họ đang bị phơi bày ra khắp thế giới.


Các bankster muốn chúng ta tin rằng không có đủ sự giàu có và tài nguyên để nuôi những người đang sống trong đói nghèo. Họ muốn chúng ta tin rằng việc tăng trưởng kinh tế là không đủ để tạo ra công ăn việc làm, trả nợ những khoản nợ quốc tế và đối phó với biến đổi khí hậu toàn cầu. Thay vào đó, họ tẩy não chúng ta để tin rằng chỉ đủ tiền để tiếp tục trả lãi các khoản nợ mà họ tạo ra thông qua gian lận.


Sự thật là có đủ và dư thừa sự giàu có, tài nguyên cho tất cả mọi người. Các banksters cũng nhận thức được điều này. Vì vậy, họ lừa dối để chúng ta tin rằng không có đủ sự giàu có và tài nguyên cho tất cả mọi người, họ tạo ra những hệ thống niềm tin sai trái dựa trên tình trạng khan hiếm để buộc chúng ta phải chấp nhận ý thức hệ của họ. Mục đích của việc này là để ngăn cản chúng ta ngang hàng với họ. Nói cách khác, họ chỉ muốn chính mình đứng trên đỉnh kim tự tháp xã hội.

Thật không may cho các banksters, sự che đậy âm mưu đó đang bị tiết lộ. Sự thật đang được phơi bày và không thể dừng lại. Họ biết rằng sự giàu có ẩn giấu trong hành tinh của chúng ta, với hàng chục nghìn tỷ $ là sẵn có cho nhân loại. Các banksters biết về việc này và họ đang sống trong sợ hãi bởi vì họ đang mất kiểm soát của các tài khoản thế chấp toàn cầu. Một khi họ bị mất quyền kiểm soát của các tài khoản này, họ biết rằng đế chế của mình sẽ sụp đổ.

Một khi các banksters bị đẩy ra khỏi quyền lực, nhân loại sẽ tiến tới một thời đại mới của sự thịnh vượng. Năng lượng giá rẻ thay thế, chẳng hạn như những thiết bị tạo "năng lượng miễn phí” sẽ sớm có mặt cung cấp cho công chúng giúp giảm hơn 80% chi phí sinh hoạt. Chúng ta sẽ sớm có thể sống mà không sợ không có đủ tiền để mua thức ăn và trả các hóa đơn của mình. Tầm nhìn của tự do đích thực và hòa bình thế giới sẽ sớm trở thành hiện thực. Đó  như là một giấc mơ không tưởng. Nhưng rất thực tế. Thực tế này chỉ có thể xảy ra nếu chúng ta cùng đứng lên cho tự do của chính nhân loại.

Tôi biết có rất nhiều người đã bị mất nhà cửa và tài sản. Tôi cảm thấy nỗi đau đớn của bạn nhiều hơn bạn có thể nhận ra. Đó là lý do tại sao tôi đang chia sẻ những  thông tin rất nhạy cảm với thế giới với mong muốn các bạn có thể hiểu rõ tình hình của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và giải phóng mình khỏi ách nô lệ của nợ nần.

Để giải phóng mình khỏi ách nô lệ  của nợ nần, chúng ta cần hỗ trợ những con người dũng cảm, họ đang mạo hiểm cuộc sống của mình để tiết lộ chương trình nghị sự đen tối của các 'banksters’. Chúng ta cũng cần phải bắt đầu nói chuyện với bạn bè, gia đình và hàng xóm của mình về chủ đề này để có thể đánh thức họ dậy. Miễn là chúng ta luôn cùng nhau thực hiện, không có lý do để chúng ta không thể đạt được hòa bình trên thế giới. Năm mới này 2013 có thể là dấu mốc mà loài người cuối cùng sẽ tự thoát khỏi sự kiểm soát của các banksters.



Chuyển dịch bởi ZE

Thứ Hai, 3 tháng 12, 2012

Chiến Tranh Tiền Tệ - Phần II


Chiến Tranh Tiền Tệ
Dịch giả: Hồ Ngọc Minh
Hiệu đính: Nguyễn Giang Chi

Phần II
CUỘC CHIẾN TRĂM NĂM GIỮA NGÂN HÀNG QUỐC TẾ VÀ TỔNG THỐNG HOA KỲ
Tôi có hai kẻ thù chính: quân đội miền nam trước mặt và cơ cấu tiền tệ sau lưng. Trong hai thế lực này, sự đe doạ của kẻ đứng sau lưng mới là nguy hiểm nhất. Tôi nhìn thấy một nguy cơ trong tương lai đang đến gần chúng ta, khiến chúng ta lo sợ cho sự an nguy của đất nước. Sức mạnh của đồng tiền sẽ tiếp tục thống trị và làm tổn thương đến người dân, và đến khi những đồng tiền cuối cùng tích tụ lại trong tay một số kẻ thì đất nước của chúng ta sẽ bị phá huỷ. Hiện giờ tôi lo lắng cho tương lai của đất nước hơn bất cứ lúc nào, thậm chí còn hơn cả trong tình huống chiến tranh(1).
Lincoln, tổng thống thứ 16 của Hoa Kỳ
Nếu nói lịch sử Trung Quốc được xoay quanh bởi những cuộc đấu tranh quyền lực chính trị, và nếu không hiểu được những mưu tính trong đầu các bậc đế vương thì chúng ta không thể hiểu thấu được cái tinh thần cốt lõi của lịch sử Trung Quốc. Tương tự, lịch sử phương Tây phát triền từng bước theo sự tiến hoá của đồng tiền, nếu không hiếu được cơ mưu của đồng tiền thì không thể nắm được nguồn mạch của lịch sử phương Tây.
Lịch sử nước Mỹ gắn liền với sự can thiệp và âm mưu của các thế lực quốc tế, trong đó, điều khiến người ta sợ nhất chính là sự thâm nhập và âm mưu lật đổ của các thế lực tài chính quốc tế đối với nước Mỹ, nhưng đây cũng là điều chứng mấy ai biết đến.
Việc thiết kế và xây dựng chế độ dân chủ được coi là hành động nhằm ngăn cản sự đe doạ của các thế lực phong kiến chuyên chế. Ở phương diện này, nó đã thu được hiệu quả khả quan, tuy nhiên, bản thân chế độ dân chủ lại không có được sức miễn dịch đáng tin cậy đối với những mầm bệnh chết người mới được sinh ra từ quyền lực của đồng tiền.
Chế độ dân chủ mới bộc lộ khả năng yếu kém trong việc phán đoán và phòng ngự hướng tấn công chủ yếu của các ngân hàng quốc tế đối với việc khống chế quyền phát hành tiền tệ nhằm chi phối toàn bộ quốc gia. “Tập đoàn lợi nhuận đặc thù siêu tiền tệ” và chính phủ do dân Mỹ chọn ra trong thời gian hơn một trăm năm trước cũng như sau cuộc nội chiến Bắc- Nam đã tiến hành những cuộc đấu tranh quyết liệt nhằm xây dựng một định chế tài chính của hệ thống ngân hàng trung ương tư hữu Mỹ. Tổng cộng đã có tất cả 7 tổng thống Mỹ, nhiều uỷ viên quốc hội khác đã bỏ mạng vì cuộc chiến giữa hai thế lực này. Các nhà sử học Mỹ đã chỉ ra rằng, tỉ lệ thương vong của các tổng thống Mỹ so với thời kỳ chiến tranh thế giới thứ hai còn cao hơn nhiều so với tỉ lệ thương vong bình quân của một đoàn thuỷ quân lục chiến!
Cùng với việc mở cửa toàn diện nền tài chính của Trung Quốc, các ngân hàng quốc tế sẽ thâm nhập sâu vào hệ thống tài chính của Trung Quốc, và câu chuyện đã xảy ra cho nước Mỹ hôm qua, liệu có tiếp tục tái diễn ở Trung Quốc hôm nay?

1. Vụ ám sát tổng thống Lincoln

Tối thứ sáu ngày 14 tháng 4 năm 1865, tổng thống Lincoln đã có thể thở phào nhẹ nhõm kể tử khi diễn ra cuộc nội chiến kéo dài bốn năm đầy tang tóc với muôn vàn nguy cơ và gian khổ. Cuối cùng, năm ngày trước khi nhận được tin thắng lợi - tướng Robert Lee thống lĩnh quân đội miền nam đã đầu hàng tướng Grant của quân đội miền bắc - vị tổng thống đã cảm thấy đỡ căng thẳng hơn. Và trong lúc hứng chí, ông đã đến nhà hát Ford ở Washington để xem buổi biểu diễn. Vào lúc 10 giờ 15 phút, lợi dụng lúc không có cận vệ bên cạnh, một kẻ sát thủ đã lẻn tới cạnh tổng thống, dùng một khẩu súng cỡ lớn nhằm thẳng vào đầu ông mà bóp cò. Lincoln bị trúng đạn đổ vật về phía trước. Sáng sớm hôm sau, tổng thống qua đời.
Hung thủ là John Wilkes Booth - một diễn viên có chút tiếng tăm khi đó. Sau khi ám sát xong Lincoln, tay này hoảng sợ bỏ trốn. Ngày 26 tháng 4, hung thủ bị bắn chết trên đường bỏ trốn. Trong xe ngựa của hung thủ, người ta đã phát hiện thấy rất nhiều thư từ viết bằng mật mã và một số vật dụng cá nhân của Benjamin - Bộ trưởng Bộ chiến tranh của chính phủ miền nam và sau này là Bộ trưởng ngoại giao, một người có thực quyền về mặt tài chính ở miền nam đồng thời có mối quan hệ rất thân mật với các đại gia ngân hàng ở châu Âu.
Sau đó, người này đã đào tẩu sang Anh. Sự kiện Lincoln bị ám sát về sau đã được lan truyền rộng ra và nhiều người cho rằng đây là một âm mưu có quy mô lớn. Những người tham gia trong âm mưa này có thể là các thành viên nội các của Lincoln, các ngân hàng ở New York và Philadenphia, quan chức cao cấp của chính phủ miền nam, giới quyền lực trong ngành xuất bản báo chí và các phần tử nổi loạn ở miền bấc.
Thời đó có một giả thuyết lan truyền rộng rãi rằng, Booth không hề bị giết chết, mà là được phóng thích, còn thi thể được mai táng sau này là người đồng mưu của anh ta. Edwin Stanton - Bộ trưởng chiến tranh nắm giữ trọng quyền khi đó đã che giấu chân tướng sự việc. Thoạt nghe thì đây có vẻ là một giả thuyết hoang đường. Thế nhưng, sau khi một loạt các văn kiện bí mật của Bộ trưởng chiến tranh được giải mã vào những năm 30 của thế kỷ 20 thì các nhà sử học đã phát hiện ra một sự thật đầy kinh ngạc về cái chết của tổng thống Lincoln, trên thực tế chẳng khác gì lời đồn thổi của thiên hạ.
Trong bài viết “Tại sao Lincoln bị ám sát?”, Otto Eisenschiml - nhà sử học đầu tiên chuyên nghiên cứu về đề tài này đã gây chấn động cho các đồng nghiệp trên thế giới bằng những phát hiện đầy bất ngờ. Sau đó, Theodore Roscoe đã cho công bố kết quả nghiên cứu có sức ảnh hưởng rộng rãi hơn nữa bằng cách chỉ ra rằng:
Phần lớn các nghiên cứu lịch sử của thế kỷ 19 liên quan đến việc tổng thống Lincoln bị ám sát đều miêu tả sự việc giống như một vở bi kịch điển hình của nhà hát Ford vậy… Chỉ có một số ít nhìn nhận sự việc như là một cuộc mưu sát: Lincoln chết trong tay một tên tội phạm thô bỉ… tội phạm phải bị trừng phạt theo pháp luật; thuyết âm mưu đã bị bóp chết; cuối cùng Đức và Mỹ đã giành được thắng lợi Lincoln cũng đã thuộc về quá khứ”.
Thế nhưng, việc giải thích sự kiện ám sát tổng thống vừa không khiến cho người ta hài lòng vừa khó khiến cho người ta khâm phục. Thực tế cho thấy, tên tội phạm liên quan đến cái chết của Lincoln vẫn đang nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật(2). Trong bài viết “Hành động ngu xuẩn“ (This One Mad Act) thuộc cuốn hồi ký của mình, Izola Forrester - cháu gái của tên hung thủ - đã nói rằng, bà phát hiện thấy ghi chép bí mật “Kỵ sĩ rạp xiếc” (Knights of the Golden Circle) đã bị chính phủ cố ý cất vào trong kho văn kiện, đồng thời bị Edwin Stanton xếp vào loại tài liệu tuyệt mật. Sau khi Lincoln bị ám sát, bất cứ ai cũng không được tiếp cận với những tài liệu này. Do mối quan hệ huyết thống giữa Izola và Booth, hơn nữa, với tư cách là một nhà văn chuyên nghiệp, cuối cùng bà đã trở thành là người đầu tiên được phép đọc những tài liệu này. Trong cuốn sách của mình, bà đã viết rằng:
Những bao tài liệu cũ kỹ thần bí này được cất giữ trong một két bảo hiểm nằm trong góc khuất giữa nơi đặt di tích của “âm mưu thẩm phán” và căn phòng trưng bày. Nếu không phải là năm năm trước khi đọc những tư liệu (ở căn phòng đó) mà tôi đã tình cờ nhìn thấy cạnh chiếc tủ, thì có thể chẳng bao giờ tôi biết chúng (tài liệu bí mật) tồn tại. Những tài liệu ở đây có liên quan đến ông nội tôi. Tôi biết ông từng là thành viên của một tổ chức bí mật. Tổ chức này chính là “Kỵ sĩ rạp xiếc” do Bickley sáng lập nên. Tôi có giữ một tấm ảnh của ông - bức ảnh ông chụp chung với họ - tất cả họ dầu ăn mặc chỉnh tề.
Bức ảnh này được phát hiện trong quyển “kinh thánh” của bà nội tôi tôi còn nhớ bà từng nói rằng chồng bà (Booth) là “công cụ của người khác(3). “Kỵ sĩ rạp xiếc” và các thế lực tài chính New York rốt cuộc có mối quan hệ như thế nào? Có bao nhiêu người trong chính phủ của Lincoln đã tham gia vào âm mưu ám sát Lincoln? Tại sao các nghiên cứu về cái chết của Lincoln trong suốt thời gian dài luôn lạc hướng như vậy? Cái chết của Lincoln cũng giống với cái chết của Kennedy 100 năm sau đó, đều là sự phối hợp mang tính tổ chức trên quy mô lớn, mọi chứng cứ đều bị bịt đầu mối, mọi sự điều tra đều bị đánh lạc hướng một cách hệ thống, chân tướng của sự việc luôn được che đậy bởi một màn sương lịch sử dày đặc Muốn hiểu được động cơ và mưu đồ thực sự đằng sau việc Lincoln bị sát hại, chúng ta cần phải tìm hiểu sâu hơn những cuộc đối đầu trong nỗ lực khống chế quyền phát hành tiền tệ của quốc gia này suốt quá trình lập quốc của Mỹ.

2. Quyền phát hành tiền tệ và chiến tranh độc lập của nước Mỹ

Trong các cuốn sách giáo khoa lịch sử viết về nguyên do của cuộc chiến tranh độc lập ở Mỹ có rất nhiều điều giá trị vừa toàn diện lại vừa trừu tượng được đem ra phân tích và trình bày. Nhưng ở đây, chúng ta sẽ nhìn từ một góc độ khác để tìm hiểu sâu hơn bối cảnh tài chính cũng như vai trò hạt nhân của nó trong cuộc cách mạng này.
Đa số những người đến Mỹ mưu sinh sớm nhất chính là những cùng dân hết sức nghèo khổ. Trong cuộc hành trình của mình đến vùng đất mới, ngoài những hành lý đơn giản đem theo, hầu như họ chẳng có tài sản đáng giá hay tiền bạc gì. Thời đó, ở miền bắc Mỹ người ta vẫn chưa khám phá ra những mỏ vàng bạc lớn như sau này, cho nên nguồn tiền tệ lưa thông trên thị trường cực kỳ thiếu hụt. Thêm vào đó là tỉ lệ nhập siêu của Anh quốc đã khiến cho một lượng lớn tiền vàng bạc chảy về quốc gia của xứ sở sương mù này, và điều đó càng làm tăng thêm tình trạng thâm hụt lượng tiền lưu thông(4). Phần lớn hàng hoá và dịch vụ do những người dân di cư mới của miền Bắc Mỹ làm ra từ sự lao động khổ nhọc đã không thể được trao đổi hiệu quả do thâm hụt lượng tiền lưu thông, từ đó đã gây cản trở nghiêm trọng đến bước phát triển của nền kinh tế. Để ứng phó với vấn đề nan giải này, người ta buộc phải sử dụng các loại tiền tệ thay thế khác để tiến hành mua bán hàng hoá. Chẳng hạn, các hàng hoá được chấp nhận với mức độ cao như da và lông động vật, vỏ ốc, thuốc lá, gạo, lúa mạch, ngô được sử dụng như một loại tiền. Chỉ riêng ở miền Bắc Carolina, từ năm 1715 đã có hơn 17 loại hàng hoá được dùng như tiền tệ chính thức (Legal Tender), chính phủ và người dân có thể dùng những hàng hoá này để tiến hành các hoạt động giao dịch như đóng thuế, trả nợ, mua bán hàng hoá. Khi đó tất cả những loại tiền tệ thay thế này đều lấy đồng bảng Anh làm tiêu chuẩn tính toán. Trong hoạt động thực tế, do giá thành, quy cách, mức độ chấp nhận và tính chất có thể lưu giữ lâu của các loại hàng hoá này khác nhau, nên việc đo lường theo tiêu chuẩn cũng trở nên khó khăn. Ở mức độ nào đó, chúng đã cứu vãn được tình trạng thâm hụt tiền lưu thông đang cấp bách, nhưng nó cũng đã tạo nên tình trạng “thắt cổ chai” cho sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá(5).
Sự thiếu hụt tiền kim loại trong thời gian dài và sự bất tiện trong việc sử dụng các loại tiền hiện vật thay thế đã thúc đẩy chính phủ thoát ra khỏi lối tư duy truyền thống để bắt đầu một thử nghiệm hoàn toàn mới: dùng loại tiền giấy có tên là Colonial Scrip để in tiền - loại tiền chuẩn được pháp luật quy định thống nhất. Sự khác biệt lớn nhất giữa loại tiền giấy này so với chi phiếu ngân hàng đang lưa hành ở châu Âu chính là nó không có bất cứ khoản hiện vật vàng hay bạc nào bảo đảm mà chỉ là một loại tiền tín dụng chính phủ. Mọi người trong xã hội đều cần phải đóng thuế cho chính phủ, mà chỉ cần tiếp nhận loại tiền giấy này như bằng chứng của việc nộp thuế thì chính phủ đã có đầy đủ các yếu tố cơ bản để đưa loại tiền giấy này vào lưu thông trên thị trường.
Loại tiền mới này quả nhiên đã thúc đẩy sự phát tiền nhanh chóng của nền kinh tế xã hội, các giao dịch hàng hoá cũng ngày càng trở nên nhộn nhịp.
Lúc này, Adam Smith của nước Anh cũng đã chú ý đến sự thể nghiệm tiền tệ mới này của chính phủ thuộc địa ở Bấc Mỹ, và ông hiểu khá rõ vai trò kích thích to lớn đối với thương mại của loại tiền giấy này, đặc biệt là đối với khu vực bắc Mỹ đang thiếu hụt tiền kim loại. Ông cho rằng: “Việc mua bán trên cơ sở tín dụng khiến cho các thương gia có thể định kỳ kết toán số dư tín dụng giữa các bên theo mỗi tháng hoặc mỗi năm, và điều này đã giảm thiểu sự bất tiện trong giao dịch. Một hệ thống tiền giấy được quản lý tốt không những tạo ra sự thuận tiện trong sử dụng mà còn có thể có rất nhiều ưu thế trong một số tình huống nào đó”(6).
Nhưng một loại tiền tệ không có thế chấp là kẻ thù tự nhiên của các ngân hàng, bởi vì nếu không có các khoản vay của chính phủ làm thế chấp thì chính phủ cũng không cần phải vay các khoản tiền kim loại vốn rất thiếu hụt thời bấy giờ, và như vậy, quả cân lớn nhất trên tay của các ngân hàng trong chốc lát cũng mất đi uy lực.
Năm 1763, Benjamin Franklin vi hành đến nước Anh. Khi được vị chủ tịch của Ngân hàng Anh hỏi về nguyên nhân phát triển thịnh vượng của thuộc địa ở châu lục mới, Franklin đã trả lời rằng: “Điều này rất đơn giản. Ở đất thuộc địa, chúng tôi phát hành tiền tệ của riêng mình, gọi là “chứng chỉ thuộc địa”. Chúng tôi căn cứ vào nhu cầu của thương nghiệp và công nghiệp để phát hành một lượng tiền tệ cân đối, như vậy, sản phẩm rất dễ dàng chuyển từ tay người sản xuất đến tay người tiêu dùng. Dùng phương thức này, chúng tôi tạo ra loại tiền giấy của riêng mình, đồng thời bảo đảm sức mua của nó, và chính phủ của chúng tôi không cần phải trả lợi tức cho bất kỳ ai”(7).
Loại tiền mới này tất nhiên sẽ giúp cho thuộc địa châu Mỹ thoát ly khỏi sự khống chế của Ngân hàng Anh.
Các ngân hàng Anh tỏ ra phẫn nộ và bắt tay nhau hành động. Dưới sự khống chế của các nhà tài phiệt ngân hàng, vào năm 1764, Nghị viện Anh đã thông qua “Đạo luật tiền tệ” (Currency Act), theo đó, Nghị viện nghiêm cấm các bang trong thuộc địa châu Mỹ in ấn và phát hành tiền giấy của riêng mình, đồng thời yêu cầu chính phủ các nơi này phải sử dụng toàn bộ vàng và bạc để đóng những khoản thuế cho chính phủ Anh. Franklin đã nhận xét một cách đau đớn về hậu quả kinh tế nghiêm trọng do đạo luật này mang lại cho các bang ở xứ thuộc địa như sau:
“Chỉ trong một năm, tình hình (thuộc địa) đã hoàn toàn đảo ngược, thời kỳ phồn thịnh đã kết thúc, kinh tế suy thoái nghiêm trọng đến mức từ đường phố cho đến bến cảng đều tràn ngập những đám người thất nghiệp”.
“Nếu như Ngân hàng Anh không tước đoạt quyền phát hành tiền tệ của xứ thuộc địa thì người dân của xứ này sẽ vui vẻ đóng các khoản thuế trà và các sản phẩm khác. Đạo luật này đã gây nên tình trạng thất nghiệp và sự bất mãn. Xứ thuộc địa không thể phát hành được tiền tệ của mình, từ đó sẽ không thể thoát khỏi sự khống chế của Vua George III và Ngân hàng thế giới một cách vĩnh viễn. Và nó trở thành nguyên nhân chủ yếu gây ra cuộc chiến tranh độc lập ở Mỹ”(9). Những người đặt nền móng xây dựng nên Hợp chủng quốc Hoa Kỳ nhận thức được sự khống chế của Ngân hàng Anh đối với nền chính trị Anh cũng như sự bất công đối với người dân. Người hoàn thành bản “Tuyên ngôn Độc lập” Mỹ nổi tiếng khi chỉ mới 33 tuổi chính là Thomas Jefferson - tổng thống thứ ba của nước Mỹ - với một câu cảnh báo người đời rằng:
Nếu cuối cùng người dân Mỹ để cho ngân hàng tư nhân khống chế được sự phát hành tiền tệ của quốc gia thì những ngân hàng này trước hết sẽ thông qua việc tăng lạm phát tiền tệ, sau đó thông qua việc thắt chặt tiền tệ để tước đoạt tài sản của người dân, cho đến một ngày, khi con cái của họ thức tỉnh, thì họ đã mất đi nhà cửa vườn tược của mình và miền đất mà cha ông họ đã từng khẩn hoang khai phá(10).
Sau hơn 200 năm khi lắng nghe câu nói này của Jefferson được phát ngôn vào năm 1791, người ta vẫn không khỏi kinh ngạc trước sự chính xác đến kinh người trong những lời nói đó. Ngày nay, các ngân hàng tư nhân quả nhiên đã phát hành hơn 97% lượng tiền của Mỹ, người dân Mỹ quả nhiên cũng mắc nợ ngân hàng với khoản tiền lên đến con số 44.000 tỉ đô-la Mỹ. Và có lẽ, một ngày nào đó khi tỉnh dậy, họ sẽ thấy rằng mình đã mất đi nhà cửa vườn tược và tài sản, giống như những gì đã từng xảy ra vào năm 1929.
Khi xem xét kỹ lịch sử và tương lai, những người dẫn đường vĩ đại của Hoa Kỳ đã viết ra một cách rõ ràng trong mục 8 chương 1 Hiến pháp của nước Mỹ rằng: “Quốc hội có quyền in và quy định giá trị của đồng tiền quốc gia”(11).

3. Chiến dịch thứ nhất của Ngân hàng quốc tế: Ngân hàng đầu tiên của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (1791 - 1811)

Tôi tin chắc rằng, sự de doạ của tổ chức ngân hàng đối với tự do của chúng ta còn nghiêm trọng hơn uy lực quân sự của kẻ thù. Họ đã tạo ra một tầng lớp quý tộc rủng rỉnh tiền bạc và coi thường chính phủ. Quyền phát hành tiền tệ phải được đoạt lại từ tay ngân hàng, nó phải thuộc về những người chủ thực sự của nó - nhân dân(12).
Thomas Jefferson 1802.
Alexander Hamilton là một nhân vật có tầm ảnh hưởng quan trọng trong mối quan hệ mật thiết. với gia tộc Rothschild. Sinh ra ở quần đảo Tây Ấn Độ thuộc Anh, Hamilton đến Mỹ với tên tuổi, danh tính và nơi xuất thân được giấu kín, sau đó kết hôn với con gái một gia đình giàu có ở New York.
Và theo những biên lai chuyển khoản còn lưa trữ ở Bảo tàng Anh, chúng ta có thể thấy rằng, Hamilton đã từng tiếp nhận sự trợ giúp của dòng họ Rothschild(13). Năm 1789, Hamilton đã được tổng thống Washington bổ nhiệm làm Bộ trưởng thứ nhất Bộ tài chính, chịu trách nhiệm về hệ thống ngân hàng trung ương Mỹ. Năm 1790, đối mặt với những khó khăn kinh tế và khủng hoảng nợ nần sau cuộc chiến tranh độc lập, Hamilton kiên quyết đề nghị Quốc hội thành lập một ngân hàng trung ương tư nhân kiểu như Ngân hàng Anh để phụ trách hoàn toàn việc phát hành tiền tệ. Theo lập luận của ông ta, với trụ sở đặt tại Philadelphia, Ngân hàng trung ương tư nhân sẽ cho xây dựng chi nhánh của mình tại các nơi, tiền và nguồn thuế của chính phủ cần phải đặt trong hệ thống của ngân hàng này, ngân hàng này phụ trách việc phát hành tiền tệ quốc gia để thoả mãn nhu cầu phát triển kinh tế, cho vay và thu lợi nhuận từ chính phủ Mỹ. Giá trị của ngân hàng này là 10 triệu đô-la Mỹ, trong đó tư nhân nầm giữ 80% cổ phần, 20% còn lại thuộc về chính phủ Mỹ. Cổ đông bầu ra 20 người trong số 25 người của hội đồng quản trị, 5 người còn lại do chính phủ bổ nhiệm.
Hamilton đại diện cho lợi ích của giai cấp thống trị tinh anh Hoa Kỳ. Ông ta từng chỉ ra rằng, “mọi xã hội đều phân chia thành đa số và thiểu số. Thiểu số xuất thân tử các gia đình danh gia vọng tộc, còn đa số chính là dân đen. Trước những rối loạn và biến động, nhóm đa số thường rất ít khả năng đưa ra được sự phán đoán và quyết định chính xác”.
Jefferson đại diện cho lợi ích của nhân dân. Đối với quan điểm của Hamilton, câu trả lời của ông là chúng tôi cho rằng chân lý sau đây là không cần phải chứng minh:
“Mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể tước đoạt được, trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.
Liên quan đến vấn đề chế độ ngân hàng trung ương tư nhân, cả hai bên đều chĩa mũi nhọn công kích vào nhau.
Hamilton cho rằng “nếu như không đem lợi ích và của cải của những cá nhân có tiền trong xã hội tập hợp lại với nhau thì xã hội này không thể thành công”(14). Công trái quốc gia, nếu không phải là quá nhiều, thì cũng phải là hạnh phúc của quốc gia chúng ta”(15).
Jefferson phản pháo rằng “Sự đe doạ của một tổ chức ngân hàng đối với tự do của chúng ta còn nghiêm trọng hơn uy lực quân sự của kẻ thù”(16). “Chúng ta vĩnh viễn không thể chấp nhận việc cho phép giai cấp cầm quyền tăng thêm nợ trên đầu trên cổ nhân dân”(17).
Tháng 12 năm 1791, khi được giao cho Quốc hội thảo luận, ngay lập tức phương án của Hamilton đã dẫn đến sự tranh luận gay gắt chưa từng có. Cuối cùng, phương án này đã được thượng nghị viện đã thông qua với đa số phiếu thuận, và nó cũng vượt qua ải hạ nghị viện với số phiếu 39/20. Lúc này, tổng thống Washington đang trong tình trạng phải xử lý khủng hoảng nợ nghiêm trọng và đã bị đẩy vào thế phân vân cực độ. Ông đã hỏi ý kiến Jefferson và Madison - Bộ trưởng ngoại giao của Hoa Kỳ thời đó. Những người này đã chỉ rõ ràng rằng, đề án này xung đột với hiến pháp. Hiến pháp trao quyền cho Quốc hội phát hành tiền tệ, nhưng Quốc hội không được quyền phát hành tiền tệ cho bất cứ ngân hàng tư nhân nào. Hiển nhiên, những phân tích này đã tác động mạnh tới tổng thống đến nỗi ông ta đã quyết tâm phủ nhận pháp lệnh này đến cùng.
Sau khi biết được tin tức này, với cương vị Bộ trưởng tài chính, Hamilton lập tức thuyết phục Washington rằng, nếu không thành lập ngân hàng trung ương để nhận sự đầu tư của nước ngoài đổ vào thì chính phủ sẽ sụp đổ rất nhanh.
Cuối cùng, những nguy cơ trước mắt đã áp đảo những suy nghĩ lâu dài cho tương lai. Ngày 25 tháng 2 năm 1792, tổng thống Washington đã đặt bút ký trao quyền thành lập Ngân hàng trung ương thứ nhất của Mỹ với thời gian hiệu lực trong 20 năm(18).
Các nhà tài phiệt ngân hàng quốc tế cuối cùng đã giành được thắng lợi quan trọng. Đến năm 1811, tư bản ngoại quốc đã chiếm được 7 triệu trong tổng số 10 triệu cổ phần gốc, Ngân hàng Anh và Nathan Rothschild trở thành cổ đông chủ yếu của Ngân hàng trung ương Mỹ - Ngân hàng thứ nhất của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (The First Bank of the United States)(19).
Hamilton cuối cùng trở nên vô cùng giàu có. Sau này, Ngân hàng thứ nhất sáp nhập vào công ty Manhattan New York do Lan Bow thành lập để trở thành Ngân hàng thứ nhất của phố Wall. Năm 1955, nó được sáp nhập với Chase Bank của Rockefeller và trở thành ngân hàng Chase Manhattan Bank.
Việc chính phủ tỏ rõ khát vọng cực độ đối với tiền tài hoàn toàn phù hợp với mong đợi của ngân hàng trung ương tư nhân - ngân hàng đang nóng lòng trông chờ chính phủ vay nợ. Chỉ trong vòng năm năm ngắn ngủi kể từ khi ngân hàng trung ương thành lập (1791 - 1796), số nợ vay của chính phủ Mỹ đã tăng thêm 8,2 triệu đô-la.
Năm 1798, Jetferson đã nói một cách đầy hối tiếc rằng:
“Tôi thật sự hy vọng chúng ta có thể sửa chữa, chỉnh sửa thêm cho bản hiến pháp, loại bỏ quyền vay nợ của chính phủ”(20).
Sau khi trúng cử tổng thống khoá thứ ba (1801 - 1809), Jefferson đã nỗ lực không ngừng hòng phế bỏ Ngân hàng thứ nhất của Mỹ, và đến khi hoạt động của ngân hàng sắp mãn hạn vào năm 1811 thì mâu thuẫn giữa thượng nghị viện và hạ nghị viện cũng đã lên đến mức cực điểm. Hạ nghị viện đã phủ quyết đề án kéo dài thời hạn kinh doanh của ngân hàng với 65 phiếu thuận và 64 phiếu chống, còn thượng nghị viện thì ở thế giằng co 17/17. Lần này, phó tổng thống đã phá vỡ thế bế tắc bằng một phiếu phủ quyết quan trọng và một quyết định được thông qua ngày 3 tháng 3 năm 1811, theo đó, Ngân hàng thứ nhất của Mỹ phải đóng cửa(21). Lúc này, Nathan Rothschild đang trấn giữ ở London, khi hay tin đã nổi trận lôi đình. Ông ta đe doạ rằng: “Hoặc là ngân hàng (ngân hàng thứ nhất Mỹ) được quyền kéo dài thời hạn kinh doanh, hoặc là nước Mỹ sẽ phải đối mặt với một cuộc chiến tranh tai hoạ nhất”. Nhưng đáp lại lời thách thức ấy của Nathan, chính phủ Mỹ vẫn không hề đưa ra bất cứ hành động nào. Nathan lập tức đáp trả: “Hãy dạy cho những người Mỹ vô lý này một bài học, hãy đưa chúng trở về thời kỳ thuộc địa”.
Kết quả là mấy tháng sau, cuộc chiến tranh năm 1812 giữa Anh và Mỹ đã nổ ra. Cuộc chiến đã kéo dài suốt ba năm, và mục đích của Rothschild là hết sức rõ ràng. Dòng họ này phải đánh cho đến khi những khoản nợ của chính phủ Mỹ chất cao như núi, và chính phủ Mỹ rốt cuộc không thể không đầu hàng, phải nhượng bộ để gia tộc này được tiếp tục chi phối ngân hàng trung ương. Kết quả là khoản nợ của chính phủ Mỹ đã tăng vọt từ 45 triệu đô-la lên đến 127 triệu đô-la, để rồi cuối cùng, vào năm 1815, chính phủ Mỹ cũng đã phải chịu khuất phục. Ngày 5 tháng 12 năm 1815, tổng thống Madison đã đề xuất việc thành lập Ngân hàng trung ương thứ hai. Kết quả là Ngân hàng Hoa Kỳ (The Bank of the United States) đã được khai sinh vào năm 1816 (1816 - 1832).

4. Sự trở lại của Ngân hàng quốc tế (1816 - 1832)

Sự chi phối của các cơ cấu ngân hàng đối với ý thức nhân dân tất yếu sẽ bị phá vỡ, nếu không thì sự chi phối này sẽ phá vỡ đất nước chúng ta(22).
Thư của Jefferson gửi cho Monroe (Tổng thống thứ 5 của Hoa Kỳ) năm 1815.
Ngân hàng thứ hai của Mỹ được cấp phép kinh doanh từ những năm 20 với tổng số vốn lên đến 35 triệu đô-la Mỹ, trong đó 80% vốn do tư nhân chiếm giữ, 20% vốn còn lại thuộc về chính phủ(23). và cũng giống như cơ cấu Ngân hàng thứ nhất, Rothschild là người nắm giữ quyền lực của Ngân hàng thứ hai.
Năm 1828, Andrew Jackson tham gia tranh cử tổng thống. Trong một lần phát biểu trước các ngân hàng, ông đã không ngần ngại mà nói rằng:
Các ngài là một lũ rắn độc. Nhân danh Chúa, nhất định tôi sẽ quét sạch các ngài. Nếu như người dân biết được sự khuất tất trong hệ thống liền tệ và hệ thống ngân hàng của chúng tôi thì ngay trước sáng ngày mai sẽ nổ ra cuộc cách mạng”.
Khi được bầu làm tổng thống năm 1828, Andrew Jackson quyết tâm phế bỏ Ngân hàng thứ hai. Ông chỉ ra rằng:
Nếu Quốc hội được hiến pháp trao quyền phát hành tiền tệ, hãy để cho Quốc hội thực thi quyền của mình và không được để quyền đó rơi vào tay bất cứ cá nhân hay công ty nào”.
Trong tổng số 11.000 nhân viên đang làm việc cho chính phủ liên bang, ông đã cho sa thải hơn 2.000 nhân viên có liên quan đến ngân hàng.
Năm 1832, Jackson tham gia tranh cử nhiệm kỳ thứ hai. Nếu ông thắng cử, thì thời gian hoạt động của ngân hàng thứ hai sẽ kết thúc trong nhiệm kỳ tiếp theo của ông vào năm 1836. Mọi người đều biết cảm tưởng của tổng thống đối với ngân hàng thứ hai. Và để tránh tình trạng “đêm dài lắm mộng”, ngân hàng đã nghĩ cách để có được giấy phép kinh doanh đặc biệt kéo dài thêm 20 năm nữa trước khi diễn ra cuộc bầu cử tổng thống. Đồng thời với việc này, các ngân hàng cũng đã không tiếc chi ra khoản tiền 3 triệu đô-la để ủng hộ cho quỹ tranh cử của Henry Clay - đối thủ của tổng thống Jackson - trong khi khẩu hiệu tranh cử của Jackson là “Có Jackson thì không có ngân hàng”. Cuối cùng, Jackson đã giành thắng lợi với số phiếu áp đảo.
Đề án kéo dài thời hạn giấy phép kinh doanh ngân hàng đã được thông qua tại thượng nghị viện với số phiếu 28/20, và vượt qua cửa hạ nghị viện với số phiếu 167/85(24). Ỷ vào sự hậu thuẫn của đế quốc tài chính Rothschild hùng mạnh ở châu Âu, Biddle - Chủ tịch Ngân hàng thứ hai - chẳng coi tổng thống ra gì. Trong khi thiên hạ bàn tán xôn xao rằng đề án kéo dài thời hạn kinh doanh của ngân hàng sẽ bị Jackson phủ quyết, Biddle đã lên giọng tuyên bố “Nếu ông ta phủ quyết đề án, thì tôi sẽ phủ quyết ông ta”.
Rốt cục, Jackson đã phủ quyết không chút do dự đối với đề án kéo dài thời hạn kinh doanh của Ngân hàng thứ hai. Ông còn lệnh cho Bộ trưởng tài chính lập tức yêu cầu các cơ quan dự trữ của chính phủ rút ngay các khoản tiền tiết kiệm từ tài khoản của ngân hàng thứ hai, chuyển vào các tài khoản của ngân hàng ở các bang. Ngày 8 tháng 1 năm 1835, tổng thống Jackson đã trả xong khoản nợ cuối cùng của đất nước. Đây là lần duy nhất trong lịch sử nước Mỹ, chính phủ đã giảm khoản nợ quốc gia xuống mức 0, đồng thời còn tạo ra một khoản thặng dư trị giá 35 triệu đô-la Mỹ.
Nhận xét về thành tựu vĩ đại này, các nhà sử học cho rằng “đây là thành công xán lạn nhất đồng thời cũng là sự cống hiến quan trọng nhất mà tổng thống đã làm cho đất nước này”.
Tờ Boston Post đã ví việc này với sự kiện Chúa đuổi người cho vay tiền ra khỏi thánh đường vậy.

5. “Ngân hàng muốn giết chết tôi, nhưng tôi sẽ giết chết ngân hàng”

Ngày 30 tháng 1 năm 1835, tổng thống Andrew Jackson đến Capital Hill tham dự tang lễ của một nghị sĩ Quốc hội. Với hai khẩu súng đã được nạp đầy đạn giấu trong túi áo khoác, Richard Laurence - một tay thợ sơn thất nghiệp đến từ Anh - đã lẻn theo tổng thống Andrew Jackson. Khi tổng thống tiến vào phòng nghi thức tang lễ, Laurence vẫn còn cách tổng thống một khoảng khá xa. Hắn nhẫn nại chờ thời cơ tốt hơn để hành động. Sau khi nghi thức kết thúc, hắn nấp vào giữa hai hàng cột, nơi mà hắn biết chắc chắn tổng thống phải đi qua. Vừa đúng lúc tổng thống bước đến, Laurence từ phía sau cột xông ra, chĩa súng vào tổng thống và bóp cò. Nhưng rất may, viên đạn bị lép, vì thế Laurence đã không thể hạ sát được tổng thống. Khi đó, mọi người xung quanh đều hết sức hoảng hốt. Nhưng vị tổng thống 67 tuổi này vẫn tỏ ra bình tĩnh đối mặt với tên sát thủ, và theo bản năng, ông đưa cây gậy lên để tự vệ. Liền đó, tên sát thủ lại tiếp tục móc khẩu súng thứ hai ra và bóp cò, nhưng đạn vẫn bị lép. Đây là tổng thống đầu tiên của Mỹ bị ám sát, và thật may mắn là ông đã thoát chết. Thông thường, tỉ lệ cả hai khẩu súng lép đạn chỉ là 1/125.000 mà thôi.
Tên sát nhân 32 tuổi này tự xưng là người thừa kế hợp pháp của quốc vương Anh, và hắn cho rằng, tổng thống Mỹ đã giết chết cha hắn, lại còn cự tuyệt để hấn có được một khoản tiền lớn. Sau đó, tại toà án, chỉ sau năm phút thẩm tra, toà đã phán quyết là tên sát nhân này mắc bệnh tâm thần, nên không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hắn.
Từ đó về sau, bệnh tâm thần trở thành cái cớ thích hợp nhất để các sát thủ chạy tội.
Ngày 8 tháng 1 năm 1835, tổng thống Jackson đã trả xong khoản nợ cuối cùng của đất nước. Cuối tháng Giêng, tức là ngày 30 tháng 1, vụ ám sát tổng thống đã xảy ra. Liên quan đến tên hung thủ Richard Laurence, trong cuốn sách của mình, Griffin đã viết rằng: “Tên sát thủ này hoặc là bị bệnh tâm thần thật, hoặc là giả bệnh để hòng thoát khỏi sự trừng trị nghiêm minh của pháp luật. Sau này, hắn đã khua môi múa mép nói với người khác rằng hắn có mối quan hệ mật thiết với những người có quyền thế ở châu Âu, và hắn đã được hứa là nếu có bị bắt thì sẽ được bảo vệ”(25).
Ngày 8 tháng 6 năm 1845, tổng thống Jackson qua đời. Trên bia mộ của ông chỉ lưu lại một câu nói duy nhất, “Ta đã giết được ngân hàng”.
Ngân hàng Trung ương Mỹ lại một lần nữa bị vô hiệu hoá, dẫn đến sự trả đũa nghiêm khắc của phía Anh. Nước Anh lập tức đình chỉ các khoản cho vay đối với Mỹ, trong đó có chiêu tận thu lượng cung ứng tiền vàng của nước Mỹ.
Dưới sự vận hành và điều khiển của gia tộc Rothschild, nền tài chính của Anh khi đó đã có được lượng lưu thông tiền vàng với quy mô lớn nhất. Thông qua các khoản tiền cho vay và sự vận hành của Ngân hàng trung ương Mỹ, nền tài chính Anh đã khống chế hoàn toàn việc cung ứng tiền tệ của Mỹ.
Sau khi đơn xin kéo dài thời hạn của Ngân hàng thứ hai bị tổng thống phủ quyết, Chủ tịch Ngân hàng thứ hai đã khởi động việc “phủ quyết” đối với tổng thống. Ngân hàng thứ hai tuyên bố lập tức thu hồi các khoản đã cho vay, đình chỉ tất cả các khoản vay mới. Các ngân hàng chủ yếu ở châu Âu do dòng họ Rothschild thao túng cũng đồng thời khống chế vòng quay lưu chuyển tiền tệ của nước Mỹ, đẩy nước này rơi vào tình thế sụt giảm lượng lưu thông tiền tệ “do con người gây ra” một cách nghiêm trọng, cuối cùng dẫn đến “cuộc khủng hoảng năm 1837”, kinh tế Mỹ rơi vào tình trạng suy thoái nghiêm trọng trong suốt hơn 5 năm với sức phá hoại lớn chưa từng thấy, gây nên một thời kỳ điêu tàn và kéo dài mãi đến năm 1929.
“Cuộc khủng hoảng năm 1857” tiếp sau “cuộc khủng khoảng năm 1837”, rồi cuộc khủng hoảng năm 1907 một lần nữa đã xác nhận câu nói của Rothschild: “Chỉ cần khống chế việc phát hành tiền tệ của một quốc gia thì tôi không cần phải quan tâm rằng ai là kẻ đã đặt ra pháp luật”.

6. Chiến tuyến mới: “Hệ thống tài chính độc lập”

Năm 1837, Martin Van Buren - người kế nhiệm được tổng thống Jackson ủng hộ - tiếp quản Nhà trắng. Thách thức lớn nhất của Buren là làm thế nào để khắc phục nguy cơ khủng hoảng nghiêm trọng do nguồn cung ứng tiền bị Ngân hàng quốc tế thắt chặt. Sách lược tiên phong của ông là xây dựng “hệ thống tài chính độc lập” (Independent Treasury System), rút toàn bộ tiền tệ do Bộ tài chính kiểm soát khỏi hệ thống ngân hàng tư nhân, rồi gửi vào hệ thống của mình ở Bộ tài chính. Các nhà sử học gọi hành động này là “cuộc ly hôn giữa tài chính và ngân hàng”.
Khởi nguồn của “hệ thống tài chính độc lập” là khi tổng thống Jackson phủ quyết việc kéo dài thời hạn kinh doanh của Ngân hàng thứ hai, đồng thời ra lệnh rút toàn bộ các khoản tiền của chính phủ khỏi hệ thống ngân hàng này, chuyển đến gửi ở ngân hàng của các bang. Ai ngờ, các nhà ngân hàng dùng tiền của chính phủ làm dự trữ, sau đó phát hành tín dụng với số lượng lớn để đầu cơ. Đây là một nguyên nhân khác dẫn đến “cuộc khủng hoảng năm 1837”. Nguồn tiền của chính phủ do Martin Van Buren đề xuất phải làm sao được giải phóng khỏi hệ thống tài chính nhằm bảo vệ tiền vốn của chính phủ đồng thời cân nhắc khả năng ngân hàng dùng tiền thuế của người dân để phát hành tín dụng với số lượng lớn tạo nên sự mất cân bằng trong nền kinh tế.
Một đặc điểm khác của “hệ thống tài chính độc lập “là tất cả các khoản tiền nhập vào hệ thống tài chính cần phải được thể hiện dưới dạng vàng bạc”.
Như vậy, chính phủ đã có được một điểm tựa để điều tiết khống chế đối với lượng cung ứng tiền vàng của quốc gia nhằm khống chế cuộc xung đột giữa ngân hàng châu Âu đối với việc phát hành tiền tệ của Mỹ. Cách suy nghĩ này có thể nói là một điệu kế nếu nhìn từ góc độ lâu dài, nhưng nếu xét về ngắn hạn thì lại có thể châm ngòi nổ cho quả bom rủi ro tín dụng của rất nhiều các ngân hàng, chẳng khác nào đổ thêm dầu vào lửa trong cuộc xung đột với ngân hàng thứ hai của Mỹ, và khủng hoảng sẽ xảy ra đến mức không thể khống chế được.
Trong quá trình này, Henry Clay là một nhân vật hết sức quan trọng. Ông là người kế thừa quan trọng ý tưởng thành lập Ngân hàng trung ương tư nhân của Hamilton và là nhân vật được các nhà ngân hàng mến mộ. Ông là người có tài ăn nói, lối suy nghĩ chặt chẽ và có sức lôi cuốn. Ông đã tụ hội được bên mình một nhóm các nghị sĩ ủng hộ ngân hàng và được các ngân hàng ủng hộ. Ông đã thành lập đảng Whig (tiền thân của đảng tự do Anh) - một đảng kiên quyết phản đối chính sách ngân hàng của tổng thống Jackson - và đã dồn sức vào việc khôi phục lại chế độ Ngân hàng trung ương tư hữu.
Trong cuộc tranh cử tổng thống năm 1840, đảng Whig đã đề cử vị anh hùng chiến tranh William Henry Harrison, và do trong suy nghĩ của người dân có sự thay đổi về nguy cơ kinh tế, nên Harrison đã dễ dàng giành thắng lợi và trở thành tổng thống thứ 9 của nước Mỹ.
Với vai trò thủ lĩnh của đảng Whig, Henry Clay đã nhiều lần “chỉ đạo” Harrison phải điều hành nền chính trị như thế nào. Sau khi Harrison trớ thành tổng thống, mâu thuẫn giữa hai người ngày càng trở nên gay gắt.
Henry Clay đã triệu kiến “tổng thống sắp nhậm chức” đến nhà mình ở Lexington. Vì nghĩ đến đại cuộc nên Harrison đã nhẫn nhịn đến nhà Henry Clay, nhưng vì vấn đề ngân hàng quốc gia, chế độ tài chính độc lập và nhiều vấn đề khác nữa mà hai người đã gây gổ với nhau. Nguyên nhân là vì Henry Clay cho rằng ông ta có thể lấy thân phận “thái thượng hoàng” của mình để ra lệnh. Dù chưa được sự đồng ý của Harrison nhưng ông ta đã cho người chấp bút viết bài diễn văn nhậm chức thay tổng thống và đã bị Harrison từ chối, sau đó, Harrison còn đích thân viết một vài diễn văn nhậm chức dài hơn 8.000 từ. Văn kiện tóm lược lại đường lối tư tưởng trị nước của Harrison đã phản bác lại luận điệu ngân hàng trung ương tư nhân và phế bỏ đường lối chính sách tài chính độc lập do Henry Clay chủ trương, tạo nên một cú đánh thấu xương đối với lợi ích của ngân hàng(26).
Ngày 4 tháng 3 năm 1841 là một ngày rét mướt. Tổng thống Harrison đã đọc bài diễn văn nhậm chức của mình trong gió rét, và sau đó đã bị cảm lạnh. Đối với tổng thống Harrison, người một đời xông pha nơi trận mạc thì chuyện này cũng chẳng có gì lớn lao, nào ngờ bệnh tình của ông lại ngày càng trở nên trầm trọng khác thường, và đến ngày 4 tháng 4 thì tổng thống đã từ trần. Vị tổng thống minh mẫn hoạt bát vừa mới lên nhậm chức và đang chuẩn bị triển khai rất nhiều dự định lớn lao thì bỗng nhiên “đột tử”. Dù thế nào thì đó cũng là một việc hết sức đáng ngờ. Một số nhà sử học cho rằng tổng thống đã bị đầu độc, có thể thời gian hạ độc là vào ngày 30 tháng 3, và sau 6 ngày thì tổng thống Harrison từ trần.
Mâu thuẫn giữa Ngân hàng trung ương tư nhân và hệ thống tài chính độc lập càng trở nên căng thẳng hơn kể từ sau cái chết của tổng thống Harrison. Trong năm 1841, Đảng Whig do Henry Clay chủ trì đã hai lần đề xuất phải khôi phục lại Ngân hàng trung ương tư nhân và phế bỏ chế độ tài chính độc lập. Kết quả cả hai lần đều bị người kế nhiệm của tổng thống Harrison là Phó tổng thống John Tyler phủ quyết. Henry Clay tức giận và xấu hổ đã ra lệnh khai trừ John Tyler ra khỏi Đảng Whig, kết quả là tổng thống John Tyler “may mắn” trở thành vị tổng thống “mồ côi“ duy nhất trong lịch sử nước Mỹ bị khai trừ ra khỏi Đảng.
Đến năm 1849, sau khi trúng cử tổng thống, Zachary Tayler - một nhân vật khác của Đảng Whig - đã khôi phục lại hy vọng của Ngân hàng trung ương. Việc xây dựng một ngân hàng trung ương tư nhân theo mô hình của Ngân hàng Anh là mơ ước cao nhất của các ngân hàng, và nó có nghĩa rằng, cuối cùng thì ngân hàng cũng quyết định được số phận của quốc gia và nhân dân. Nhìn vào vết xe đổ trước đó của tổng thống Harrison, Tayler luôn tỏ ra hững hờ đối với vấn đề ngân hàng trung ương hết sức quan trọng này, tuy nhiên, ông cũng không cam tâm trở thành con rối trong tay Henry Clay. Nhà sử học Michael Holt đã cho rằng, tổng thống Tayler đã từng ngầm bày tỏ như thế này “Chủ ý xây dựng Ngân hàng trung ương đã được định đoạt, và đó không phải là vấn đề cần được tôi xem xét trong nhiệm kỳ của mình(27). Kết quả là, “cái đã được định đoạt” ở đây không phải là sự chú ý của Ngân hàng trung ương mà nhẩm vào bản thân tổng thống Taylor.
Ngày 4 tháng 7 năm 1850, tổng thống Tayler tham dự lễ quốc khánh được cử hành trước đài tưởng niệm Washington. Thời tiết hôm đó hết sức oi bức, Tayler đã uống một chút sữa đá và ăn thêm mấy quả anh đào, kết quả là ông bị đau bụng. Đến ngày 9 tháng 7 thì vị tổng thống khôi ngô vạm vỡ này cũng ra đi một cách thần bí.
Sự kiện đột tử thần bí vì những căn bệnh chẳng đâu vào đâu của cả hai vị tổng thống có xuất thân từ quân nhân này đương nhiên đã gây xôn xao dư luận. Còn giới sử học thì tranh luận về đề tài này trong hàng thế kỷ. Năm 1991, sau khi được sự đồng ý của người nhà tổng thống Tayler, thi thể của ông đã được khai quật lên. Người ta lấy mẫu móng tay và tóc của tổng thống đi xét nghiệm. Kết quả cho thấy, ông chết vì bị đầu độc. Đương nhiên, cơ quan điều tra đã nhanh chóng lấp liếm rằng, lượng đầu độc rất nhỏ không đủ để gây chết người, sau đó vội vàng kết thúc vụ điều tra. Cho đến ngày nay, chẳng ai biết được tại sao cơ thể tổng thống lại có những thứ độc tố đó.

7. Ngân hàng quốc tế ra tay tạo nên cuộc “khủng hoảng năm 1857”

Do Ngân hàng thứ hai của Mỹ đóng cửa năm 1836 nên các nhà tài phiệt ngân hàng quốc tế đã đột ngột ra tay rút sạch toàn bộ lượng tiền tệ kim loại đang lưu thông ở nước Mỹ, tạo nên cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng diễn ra liên tục trong 5 năm ở quốc gia này. Mặc dù vào năm 1841, đại diện của các nhà tài phiệt ngân hàng quốc tế đã từng hai lần thử khôi phục lại hệ thống ngân hàng trung ương tư nhân, nhưng cả hai lần đều thất bại, mối quan hệ giữa hai bên rơi vào trạng thái đóng băng, tình trạng siết chặt tiền tệ của Mỹ kéo dài mãi đến năm 1848 mới bất đầu được giải toả.
Nguyên nhân khiến cho tình hình chuyển biến tích cực tất nhiên không phải do các nhà tài phiệt ngân hàng quốc tế quá nhẹ tay mà là do vào năm 1848, nước Mỹ đã phát hiện mỏ vàng rất lớn: mỏ vàng San Francisco.
Lượng cung ứng vàng của Mỹ liên tục trong 9 năm kể từ năm 1848 đã tăng vọt chưa từng thấy. Chỉ riêng California đã sản xuất ra một lượng tiền vàng trị giá đến 5 tỉ đô-la Mỹ. Năm 1851, một mỏ vàng có trữ lượng lớn cũng được phát hiện ở Úc. Lượng cung ứng vàng trên phạm vi thế giới từ 144 triệu si-ling vào năm 1851 tăng vọt lên 376 triệu si-ling trong năm 1861. Và lưu lượng tiền thuộc kim nội địa của Mỹ từ 83 triệu đô-la trong năm 1840 tăng vọt lên 253 triệu đô-la trong năm 1860(28).
Việc phát hiện những mỏ vàng lớn ở Mỹ và Úc đã phá vỡ sự khống chế tuyệt đối của các nhà tài chính châu Âu đối với lượng cung ứng vàng thế giới. Chính phủ Mỹ thở phào nhẹ nhõm vì đã thoát được cảnh phải bị siết chặt về tiền tệ. Việc cung ứng tiền tệ với chất lượng tốt và số lượng nhiều đã làm tăng niềm tin cho thị trường, các ngân hàng bắt đầu bành trướng hoạt động tín dụng trên quy mô lớn. Cơ sở quan trọng nhất trong tài sản của nước Mỹ là rất nhiều ngành công nghiệp quan trọng của Mỹ như công nghiệp, khoáng sản, giao thông, cơ giới đều được khôi phục nhanh chóng trong giai đoạn hoàng kim này.
Thấy việc khống chế tài chính tỏ ra không còn hiệu quả, các nhà tài phiệt ngân hàng quốc tế đã tung ra đối sách mới. Đó chính là chính sách khống chế tài chính và phân hoá chính trị.
Trước khi cuộc khủng hoảng kết thúc, các nhà tài phiệt ngân hàng đã bắt đầu ra tay thu mua của cải quý giá của dân chúng với giá rẻ mạt. Đến năm 1853, khi nền kinh tế Mỹ phất như diều gặp gió thì tư bản nước ngoài, đặc biệt là tư bản Anh đã sở hữu 46% trong tổng số công trái liên bang, 58% tổng công trái các bang, 26% tổng công trái ngành đường sắt Mỹ(29). Như vậy, một khi chế độ ngân hàng trung ương được yên vị thì nền kinh tế Mỹ cũng sẽ bị các nhà tài phiệt ngân hàng khống chế giống như các quốc gia châu Âu khác.
Các nhà tài phiệt ngân hàng quốc tế mở rộng hoạt động tín dụng, khiến nền kinh tế phát triển với tốc độ như bơm bong bóng để người dân và các doanh nghiệp khác ra sức tạo ra của cải, sau đó đạp gấp phanh tín dụng, khiến cho hầu hết các doanh nghiệp và người dân lâm vào cảnh phá sản, còn các ngân hàng lại được một phen bội thu. Quả nhiên, trong khi thấy mùa thu hoạch đã đến, các nhà tài phiệt ngân hàng quốc tế và các đại diện của họ ở Mỹ đã quơ tay siết chặt tín dụng, gây nên cuộc khủng hoảng năm 1857. Nhưng điều vượt ra ngoài dự kiến của họ là, thực lực của nền kinh tế Mỹ lúc này đã không còn như 20 năm trước nữa, cuộc khủng hoảng năm 1857 không thể làm chấn thương trầm trọng nền kinh tế Mỹ một lần nữa, mà nó chỉ kéo dài trong một năm thì nước Mỹ đã dập tắt được khủng hoảng.
Khi thấy thực lực của nước Mỹ ngày càng mạnh, tài chính ngày càng khó bị khống chế, các nhà tài phiệt ngân hàng quốc tế đặt ra nhiệm vụ trọng tâm cho mình: kích động nội chiến và chia cắt nước Mỹ.

8. Khởi nguồn cuộc nội chiến Mỹ: Thế lực tài chính quốc tế châu Âu

Không còn nghi ngờ gì nữa, cuộc nội chiến chia tách nước Mỹ làm hai nửa liên bang có thực lực tương đối yếu đã được các thực tài chính châu Âu hoạch định từ rất sớm.
Bismarck - Thủ tướng Đức.
Lịch sử phát triển của nước Mỹ gắn liền với sự can thiệp và âm mưu của các thế lực quốc tế. Điều khiến người ta kinh ngạc nhất chính là sự thâm nhập và lật đổ của các thế lực tài chính quốc tế đối với nước Mỹ. Tuy nhiên, đây cũng chính là những điều ít được biết đến nhất.
Cuộc chiến tranh có quy mô lớn nhất xảy ra trên chính lãnh thổ của mình trong lịch sử của nước Mỹ chắc chắn thuộc về cuộc nội chiến Nam - Bắc. Cuộc chiến đổ máu kéo dài suốt bốn năm này đã lôi kéo 3 triệu người tham gia, chiếm 10% nhân khẩu của nước Mỹ, 600 nghìn người tử trận, vô số người tàn phế, một lượng của cải khổng lồ bị huỷ hoại trong ngọn lửa chiến tranh, và vết thương mà cuộc chiến này để lại cho người dân đến nay sau hơn 140 năm vẫn chưa được hoàn toàn khôi phục.
Ngày nay, những tranh luận liên quan đến nguyên nhân cuộc nội chiến Nam - Bắc phần lớn xoay quanh vấn đề đạo lý của cuộc chiến, tức là loại bỏ sự hiện hữu của chế độ nô lệ, đúng như Sydney E. Ahlstrom đã nói (nếu không có chế độ nô lệ thì sẽ không có chiến tranh. Nếu không có sự lên án đạo đức đối với chế độ nô lệ thì sẽ không có chiến tranh”(30).
Nhưng thực tế, liên quan đến chế độ nô lệ tại Mỹ trong thế kỷ 19, lợi ích kinh tế được xếp hàng thứ nhất, trong khi vấn đề đạo đức lại đứng hàng thứ hai. Trụ cột kinh tế miền Nam thời đó chính là nền sản xuất bông dệt vải và chế độ nô lệ, và nếu như phế bỏ chế độ nô lệ thì các chủ trang trại buộc phải trả công cho những người nô lệ ban đầu theo giá trị trường công lao động của người da trắng, và như vậy, toàn bộ sản nghiệp sẽ chịu hao tổn, kết cấu kinh tế xã hội sẽ sụp đổ. Nếu nói chiến tranh là sự kế tục của đấu tranh chính trị thì phía sau xung đột lợi ích chính trị chính là sự tính toán lợi ích kinh tế. Trên bề mặt của sự tính toán lợi ích kinh tế này nổi lên sự khác biệt về lợi ích kinh tế giữa hai miền Nam Bắc, nhưng bản chất của nó vẫn là sách lược chơi trò “chia để trị” của các thế lực tài chính quốc tế.
Bismarck - Thủ tướng Đức, người có dây mơ rễ má với dòng họ Rothschild - đã nói rất chính xác rằng “Không còn nghi ngờ gì nữa, cuộc nội chiến chia tách nước Mỹ làm hai nửa liên bang có thực lực tương đối yếu đã được các thế lực tài chính châu Âu hoạch định từ rất sớm”.
Thực chất, chính các nhà ngân hàng trục “London - Paris - Frankfurt” là những kẻ ném đá giấu tay sau cuộc chiến Nam - Bắc của Mỹ.
Để kích động cuộc nội chiến tại Mỹ, các nhà ngân hàng quốc tế đã tiến hành việc hoạch định lâu dài, cẩn trọng và chu toàn. Sau chiến tranh độc lập của Mỹ, nền công nghiệp dệt của nước Anh và các tầng lớp chủ nô ở miền Nam nước Mỹ dần dần xây dựng được mối quan hệ làm ăn mật thiết với nhau. Các nhà tài chính ở châu Âu đã nắm ngay lấy cơ hội này, thừa cơ bí mật phát triển một mạng lưới các nhân vật chủ chốt có thể kích động được cuộc xung đột Nam - Bắc trong tương lai. Ở miền nam thời đó, các đại diện đủ kiểu của các nhà tài chính Anh hiện diện khớp nơi, và cùng với các thế lực chính trị bản địa, họ tham gia hoạch địch các âm mưu, tạo ra đủ mọi loại tin tức cũng như dư luận hòng tách khỏi liên bang. Họ đã khéo léo lợi dụng sự xung đột lợi ích kinh tế về vấn đề chế độ nô lệ ở hai miền Nam - Bắc, không ngừng tạo ra căng thẳng, xung đột và làm cho vấn đề thêm trầm trọng so với bản chất, và cuối cùng đã thành công trong việc đẩy vấn đề chế độ nô lệ thành mâu thuẫn gay gắt không thể dung hoà như nước với lửa giữa hai miền.
Các ngân hàng quốc tế đã chuẩn bị sẵn sàng, chỉ còn chờ chiến tranh nổ ra là có thể vơ vét được những món lợi lớn. Trong quá trình kích động chiến tranh, chiêu thức mà họ quen dùng là “bắt cá hai tay”, bất kể ai là kẻ chiến thắng.
Những khoản nợ kếch xù của chính phủ phải chi cho chiến tranh đều là bữa tiệc thịnh soạn nhất của các ngân hàng.
Mùa thu năm 1859, trong vai một người du lịch, nhà tài phiệt ngân hàng nổi tiếng nước Pháp Salomon de Rothschild từ Paris đến Mỹ. Ông là người điều phối chung mọi kế hoạch vốn có, đi lại giữa hai miền nam - bắc, tiếp xúc với các nhân vật quan trọng trong giới chính trị và giới tài chính Mỹ, đem mọi thông tin tình báo thu thập được chuyển về cho Nathaniel de Rothschild đang trấn giữ ở London. Trong cuộc hội đàm với các giới chức miền nam, ông đã công khai tuyên bố sẽ nỗ lực chi viện cho miền nam về mặt tài chính, đồng thời bày tỏ sẽ tận lực giúp miền nam độc lập nhằm có được sự thừa nhận của các quốc gia lớn ở châu Âu(31).
Đại diện ở miền bắc của ngân hàng quốc tế là August Belmont - một nhân vật hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng gốc Do Thái được mệnh danh là “vua của Đại lộ thứ năm” ở New York. Ông là đại diện của Ngân hàng Rothschild Frankfurt, cũng là người có quan hệ thân thích với dòng họ này.
Năm 1829, khi mới 15 tuổi, August đã bắt đầu kiếm sống trong lĩnh vực ngân hàng. Ông cũng đã bắt đầu làm việc cho Ngân hàng Rothschild ở Frankfurt đồng thời sớm bộc lộ được khả năng tài chính thiên phú của mình. Ông tinh thông các ngoại ngữ Đức, Anh, Pháp, Ý. Năm 1837, ông được phái đến New York. Nhờ mua vào một lượng lớn trái phiếu chính phủ, nên Belmont nhanh chóng trở thành nhân vật cấp cao của giới tài chính New York, và được tổng thống tín nhiệm bổ nhiệm vào vị trí cố vấn tài chính. Ông đại diện cho ngân hàng Rothschild ở Anh và Frankfurt đồng thời bày tỏ ý muốn ủng hộ tài chính cho tổng thống Lincoln ở miền bắc.
Để tăng áp lực lớn hơn về mặt quân sự đối với quân miền bắc, cuối năm 1861, nước Anh đã tăng thêm 8.000 binh lính đến Canada, sẵn sàng chuẩn bị ứng phó với sự tấn công của quân miền nam đồng thời uy hiếp chính phủ Lincoln ở biên giới phía Bắc. Năm 1862, liên quân Anh, Pháp và Tây Ban Nha đã đổ bộ vào cảng Mexico, hoàn thành đợt tập kết ở biên giới phía nam của nước Mỹ, khi cần thiết sẽ xâm nhập vào miền nam nước Mỹ và trực tiếp khai chiến với quân miền Bắc. Ngày 3 tháng 10 năm 1863, Yelet - vị tướng Pháp lại tăng thêm 30.000 quân, và chiếm lĩnh thành phố Mehico.
Khi chiến tranh mới nổ ra, đội quân miền nam đánh đâu thắng đó, các cánh quân của châu Âu như quân Pháp đã mạnh lại càng mạnh hơn, Lincoln đã rơi vào tình thế cực kỳ khó khăn. Các ngân hàng đã tính toán chính xác sự trống rỗng trong quốc khố của tổng thống Lincoln khi đó, và chẳng còn cơ hội nào tốt hơn để kiếm một khoản lợi kếch xù từ cuộc chiến tranh này. Kể từ khi cuộc chiến tranh với Anh kết thúc năm 1812, thu nhập quốc khố của nước Mỹ thâm hụt nhiều năm liền, và đến trước khi Lincoln lên nắm quyền, mọi khoản thâm hụt của chính phủ Mỹ đều được đem bán cho ngân hàng dưới hình thức công trái, rồi ngân hàng lại chuyển tiếp cho Ngân hàng Rothschild ở Anh và ngân hàng Paris (đây là một hình thức mua bán nợ chính phủ). Như vậy, chính phủ Mỹ phải chi trả lợi tức khá cao, và những khoản nợ tích luỹ nhiều năm như thế này đã tạo ra gánh nặng nợ nần cho chính phủ.
Các ngân hàng đã đề xuất ra một kế hoạch tài chính trọn gói và đưa ra điều kiện của mình. Khi nghe đến khoản lãi yêu cầu từ 24% đến 36% của các ngân hàng, tổng thống Lincoln đã mời ngay các ngân hàng ra khỏi cửa trong cơn tức giận bầm gan tím mật. Đây là một chiêu độc nhằm đẩy chính phủ Mỹ rơi vào cảnh phá sản hoàn toàn, và Lincoln biết rằng người dân Mỹ mãi mãi không thể trả hết khoản nợ hàng nghìn tỉ này.

9. Chính sách mới về tiền tệ của Lincoln

Không có tiền thì không thể tiến hành chiến tranh, mà nếu vay của ngân hàng quốc tế thì chẳng khác nào tự treo thòng lọng vào cổ mình. Lincoln nghĩ trăm phương ngàn kế để tìm phương án giải quyết. Lúc đó, Dick Taylor - một người bạn cũ của ông ở Chicago - đã đề xuất với Lincoln một ý tưởng: chính phủ tự phát hành tiền tệ!
“Việc yêu cầu Quốc hội thông qua đề án này cũng như vấn đề trao quyền cho Bộ tài chính ấn hành tiền tệ sẽ có đầy đủ hiệu lực pháp luật nhằm giúp chi trả lương bổng cho binh sĩ sau đó sẽ giúp ông giành được thắng lợi trong cuộc chiến mà ông tiến hành”.
Trả lời câu hỏi của Lincoln về việc liệu người dân Mỹ cố tiếp nhận đồng tiền mới này hay không, Dick nói rằng “tất cả mọi người đều sẽ không có sự lựa chọn nào khác trong vấn đề này, chỉ cần ông tạo nên hiệu lực pháp lý đầy đủ cho loại tiền tệ mới này, chính phủ sẽ hoàn toàn ủng hộ, và chúng sẽ thông dụng giống như một loại tiền đích thực, bởi vì hiến pháp trao cho Quốc hội quyền phát hành và quyền quy định giá trị tiền tệ”.
Sau khi nghe xong đề nghị này, Lincoln tỏ ra quá đỗi vui mừng, lập tức đề nghị Dick lập kế hoạch cho việc này.
Biện pháp hết sức mới lạ này đã phá vỡ cách làm thường lệ của chính phủ là cần phải vay tiền và chịu lãi suất cao của ngân hàng tư nhân. Loại tiền mới này sử dụng hoa văn màu xanh lục để phân biệt với tiền của các ngân hàng khác và được lịch sử gọi là “tiền xanh”. Chỗ mới lạ đặc biệt của loại tiền mới này nằm ở chỗ nó hoàn toàn không được bảo đảm bằng vàng hay bạc, và lợi tức là 5% cho 20 năm.
Trong thời kỳ nội chiến, nhờ có sự phát hành của loại tiền này mà Mỹ đã khắc phục được tình trạng thiếu hụt tiền tệ nghiêm trọng của chính phủ ngay trong giai đoạn đầu của cuộc chiến. Điều này đã huy động một cách hiệu quả nhất tất cả các nguồn vốn của miền bắc nước Mỹ, tạo nên một cơ sở kinh tế vững chắc cho chiến thắng cuối cùng trước quân miền nam. Đồng thời, nhờ có giá thành thấp nên loại tiền này đã trở thành nguồn tích luỹ của ngân hàng miền Bắc, tín dụng ngân hàng của miền Bắc cũng nhờ đó mà được mở rộng, các ngành công nghiệp quốc phòng, xây dựng đường sắt sản xuất nông nghiệp và mậu dịch thương nghiệp đều nhận được sự chi viện tài chính lớn chưa từng có so với trước đó.
Việc phát hiện những mỏ vàng lớn những năm 1848 đã khiến cho nền tài chính Mỹ dần dần thoát khỏi cục diện bất lợi và cực đoan do các ngân hàng châu Âu khống chế, và cũng chính nhờ vào sản lượng lớn những mỏ vàng này nên loại tiền mới của Lincoln mới có thể được người dân tiếp nhận rộng rãi, đặt cơ sở tài chính đáng tin cậy cho việc giành thắng lợi trong cuộc chiến Nam - Bắc. Một điều nữa khiến người ta càng thêm kinh ngạc hơn là, loại tiền mới do Lincoln phát hành không hề gây ra lạm phát tiền tệ nghiêm trọng kiểu như trong thời kỳ diễn ra chiến tranh độc lập. Từ khi cuộc nội chiến nổ ra vào năm 1861 đến khi kết thúc vào năm 1865, chỉ số vật giá của toàn miền bắc Mỹ chỉ tăng một cách nhẹ nhàng từ 100 lên 216. Xem xét quy mô và sự nghiêm trọng về mức độ phá hoại của cuộc nội chiến so với những cuộc chiến có quy mô tương tự khác trên thế giới, chúng ta không thể không nói rằng đây là một kỳ tích tài chính. Ngược lại, miền nam cũng dùng phương thức lưu thông tiền giấy, nhưng hiệu quả thì khác xa một trời một vực, chỉ số vật giá của miền nam trong cùng một thời kỳ đã tăng từ 100 lên đến 2776(32).
Trong suốt thời kỳ nội chiến Nam - Bắc, chính quyền Lincoln đã phát hành số tiền mới 450 triệu đô-la Mỹ. Nhờ. cơ chế vận hành đồng tiền mới này tốt như vậy cho nên tổng thống Lincoln đã xem xét một cách nghiêm túc việc pháp chế hoá vấn đề phát hành loại tiền tệ không thế chấp này (Debt Free Money). Nhưng chính điều này đã như một đòn đau đánh vào lợi ích căn bản của các nhà tài phiệt quốc tế.
Nếu như mọi chính phủ đều không cần phải vay tiền của ngân hàng mà “thản nhiên” tự mình phát hành tiền tệ, thì sự lũng đoạn của các ngân hàng đối với việc phát hành tiền tệ sẽ không còn tồn tại nữa, như vậy không phải là ngân hàng đã trơ mỏ rồi sao?
Cũng vì thế mà ngay sau khi nghe được tin tức này, tờ London Times đại diện cho ngân hàng Anh đã lập tức dăng tải tuyên bố:
Nếu như chính sách tài chính mới của Mỹ (tiền xanh Lincoln) khiến người ta chán ghét được thực thi vĩnh viễn, chính phủ có thể phát hành khống nguồn tiền tệ của mình. Chính phủ có thể hoàn trả hết mọi khoản nợ đồng thời sẽ thu được những khoản tiền cần thiết để phát triển thương nghiệp, sẽ biến thành một quốc gia phồn vinh chưa từng có trên thế giới. Nguồn nhân tài ưu tú và mọi tài nguyên vốn có trên thế giới này sẽ chảy dồn về bắc Mỹ. Quốc gia này cần phải bị phá huỷ, nếu không nó sẽ phá huỷ từng quốc gia theo chế độ quân chủ trên thế giới”.
Chính phủ Anh và Hiệp hội Ngân hàng New York đã bày tỏ sự phẫn nộ đòi hỏi phải thực hiện các hành động đáp trả. Ngày 28 tháng 12 năm 1861, họ tuyên bố đình chỉ chi trả bằng tiền kim loại cho chính phủ Lincoln. Một số ngân hàng ở New York còn đình chỉ việc rút vàng của những người gửi tiết kiệm bằng vàng, đồng thời tuyên bố huỷ bỏ việc chấp nhận dùng vàng mua công trái của chính phủ. Các ngân hàng ở nhiều nơi trên nước Mỹ cũng rầm rộ hưởng ứng. Họ đến Washington để đề xuất những phương án thay đổi vô nguyên tắc đối với tổng thống Lincoln, đòi thực hiện lại những cách làm trong quá khứ, đem những công trái có lợi tức cao bán cho các ngân hàng châu Âu; đem vàng của chính phủ Mỹ gửi vào các ngân hàng tư nhân để dự trữ phát hành tín dụng, các ngân hàng phát tài lớn; chính phủ Mỹ trưng thu thuế của các ngành công nghiệp và người dân để chi trả cho chiến tranh.
Đương nhiên, tổng thống Lincoln đã cự tuyệt yêu cầu hoàn toàn vô lý này của các ngân hàng. Chính sách của ông rất được lòng dân, người dân Mỹ đã nô nức mua hết toàn bộ công trái, và căn cứ vào pháp luật, các công trái này được sử dụng như là hiện kim.
Các nhà tài phiệt ngân hàng thấy kế sách bất thành bèn nghĩ ra kế khác. Họ phát hiện thấy rằng trong luật phát hành tiền xanh Lincoln của Quốc hội hoàn toàn không đề cập đến việc có nên dùng vàng để chi trả lãi tức công trái hay không. Vì vậy, họ cho phép dùng loại tiền mới của Lincoln để mua công trái, nhưng phần lợi tức phải được chi trả bằng tiền kim loại. Đây là một bước trong kế hoạch hoàn chỉnh nhằm gắn kết đồng tiền mới của Lincoln tại Mỹ với giá trị của vàng. Trong khi đó, các ngân hàng châu Âu tích luỹ đồng bảng Anh nhiều hơn bất cứ đồng tiền nào thời đó và nhiều hơn so với tiền vàng của Mỹ. Sự thoả hiệp giữa ngân hàng và Quốc hội Mỹ đã khiến cho thế lực tài chính quốc tế lợi dụng việc khống chế tổng lượng xuất nhập khẩu vàng đối với nước này để gián tiếp thao túng giá trị tiền tệ của Mỹ.

10. Đồng minh Nga của Lincoln

Khi các quốc vương ở châu Âu đã chuẩn bị sẵn sàng để đem quân sang chia cắt nước Mỹ, Lincoln lập tức nhớ đến kẻ thù truyền kiếp của các quốc vương châu Âu - nước Nga. Lincoln đã phái đặc sứ cầu cứu Sa hoàng Alexardre Đệ nhị. Khi nhận được thư của Lincoln, Sa hoàng không mở ra ngay mà nâng nâng trên tay, rồi nói rằng: “Trước khi mở bức thư này hoặc biết được nội dung của nó, chúng ta sẽ đồng ý trước với bất cứ yêu cầu nào mà bức thư đề xuất(33).
Nguyên nhân Sa hoàng chuẩn bị tham gia quân sự vào cuộc nội chiến Mỹ có mấy mặt sau đây. Thứ nhất, đó là sự lo lắng “môi hở răng lạnh”, vì trong thời kỳ Alexardre đại đế trị vì, các thế lực tài chính quốc tế từng quét sạch châu Âu đã gõ cửa điện Kremli. Học theo kinh nghiệm của các quốc gia tài chính “tiên tiến” ở châu Âu, các ngân hàng cương quyết yêu cầu thành lập ngân hàng trung ương tư hữu, và Sa Hoàng đã sớm nhận ra chiêu độc trong việc này nên đã kiên quyết từ chối yêu cầu này. Khi nhìn thấy tổng thống Lincoln - một nhân vật phản đối các thế lực tài chính quốc tế - rơi vào tình cảnh nguy hiểm, Alexardre đệ nhị lo rằng, nếu không ra tay tương trợ, chẳng mấy chốc mối nguy ấy sẽ ập đến với chính mình. Một nguyên nhân khác là ngày 3 tháng 3 năm 1861 trước khi nổ ra cuộc nội chiến Nam - Bắc ở Mỹ, Alechxandre Đệ nhị đã tuyên bố pháp lệnh giải phóng nông nô, và về vấn đề này, cả Alexardre Đệ nhị lẫn Lincoln đều có những quan điểm chung. Và còn một điều nữa là cuộc chiến tranh Crimean của nước Nga vừa mới kết thúc năm 1856 đã đại bại dưới tay của liên quân Anh - Pháp, vì thế nên Alechxandre Đệ nhị chưa nguôi chuyện rửa hận.
Chưa tuyên chiến, vào ngày 24 tháng 9 năm 1663, dưới sự chỉ huy của tướng Liviski, hạm đội của Nga đã tiến vào cảng New York. Ngày 12 tháng 10, dưới sự chỉ huy của tướng Popov, hạm đội Thái Bình Dương của Nga đã đến San Francisco. Đối với hành động của nước Nga, Wales đã bình luận rằng: “Họ đã đến khi miền nam đang ở vào lúc triều lên còn miền bắc ở vào thế triều xuống. Sự xuất hiện của họ đã tạo nên sự do dự của Anh và Pháp, cuối cùng đã cho Lincohn thời gian để xoay chuyển được cục diện”.
Sau khi nội chiến kết thúc, để chi trả khoản phí tổng cộng 7,2 triệu đô-la Mỹ cho hạm đội nước Nga, chính phủ Mỹ đã chần chừ kéo dài thời gian. Vì hiến pháp không trao cho tổng thống quyền chi trả chiến phí cho chính phủ nước ngoài nên tổng thống Johanson khi đó đã đạt được thoả thuận dùng chính vùng đất Alaska mua của nước Nga để chi trả khoản chi phí chiến tranh. Trong lịch sử, vụ việc này được gọi là “Sự điên rồ của Seward”. Seward là Bộ trưởng ngoại giao thời đó của Hoa Kỳ và đã bị dân chúng kịch liệt chỉ trích khi bỏ ra 7,2 triệu đô-la để đi mua lại một vùng đất hoang hoá không đáng một xu của Nga.
Cũng vì một nguyên nhân tương tự mà Alexardre Đệ nhị đã bị hành thích vào năm 1867, nhưng vụ hành thích đã không thành công. Ngày 1 tháng 3 năm 1881, Alexardre cuối cùng cũng chết vào tay một thích khách.