Lời tiên tri của người Maya đã bị bóp méo và hiểu lầm. Sự kết thúc của lịch người Maya vào ngày 21/12/2012 hoàn toàn không liên quan tới Ngày tận thế.
Trong thực tế, lịch của người Maya không kết thúc vào ngày 21 tháng 12 năm 2012. Thay vào đó, ngày 21 tháng 12 được xem là mốc đánh dấu sự khởi đầu của một "Long cyle" mới trong hệ thống lịch của người Maya. (Xem Blog's Washington, End of the World: Nghe lời tiên tri 2012...trực tiếp từ các Thầy tu người Maya, nghiên cứu toàn cầu, ngày 13 tháng 12 năm 2012)
Trớ trêu thay, trái ngược với lời tiên tri của người Maya về sự "đổi mới" thì thế giới thực tại thế kỷ 21 chúng ta đang sống được đánh dấu bằng sự khủng hoảng ghê gớm về kinh tế và xã hội làm bần cùng hóa hàng triệu người, đồng nghĩa với việc phá hủy cuộc sống của người dân.
Trong một ý nghĩa tượng trưng, chúng ta đang ở trong một "kịch bản ngày tận thế" mang tính chất chính trị, xã hội và kinh tế phức tạp: nó là một sản phẩm nhân tạo có "Xuất xứ từ Mỹ" - Made in America;
Chiến tranh và khủng hoảng kinh tế có liên quan mật thiết. Trong khi nền kinh tế toàn cầu đang ở trong tình trạng hỗn loạn được đánh dấu bằng sự sụp đổ của hệ thống sản xuất thì Mỹ và các đồng minh, bao gồm cả NATO và Israel đã bắt tay vào một cuộc phiêu lưu quân sự với quy mô "một cuộc chiến lâu dài" được ngụy trang với tên gọi "cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu".
Kế hoạch quân sự toàn cầu của Lầu Năm Góc nhằm chinh phạt thế giới. Việc triển khai quân sự của Mỹ-NATO đang diễn ra trên các khu vực thế giới trong cùng một lúc. Kịch bản Trò chơi chiến tranh của Lầu Năm Góc rất gần với kịch bản Chiến tranh thế giới thứ 3. Đây là kịch bản có khả năng đe dọa tương lại nhân loại.
- Media disinformation: trong khi các độc giả đang hướng sự chú ý vào "Ngày tận thế" thì "Cuộc khủng hoảng thực sự" lại không là đề tài được bàn luận. Kịch bản "chiến tranh lâu dài", viễn cảnh u ám của những người dân bị bần cùng hóa và sự đi xuống của kinh tế toàn cầu không bao giờ được xuất hiệntrên các mặt báo.
Các tập đoàn truyền thông đóng vai trò trung tâm trong việc tạo nên sự hợp pháp của chương trình quân sự hủy diệt. Kho vũ khí của NATO-Mỹ cùng việc triển khai quân sự trên tất cả các khu vực thế giới thường xuyên được miêu tả với hình ảnh là những thiết bị hòa bình. Các vũ khí hạt nhân chiến thuật thế hệ mới của Mỹ được cho là "vô hại với dân thường". Nhiệm vụ ngăn chặn chiến tranh hạt nhân có tiềm năng tạo thành một kịch bản ngày tận thế trên thực tế được miêu tả là "cam kết nhân đạo".
Bộ máy tuyên truyền chiến tranh trước hết sẽ tạo nên trong mắt dư luận sự hợp pháp của cuộc chiến, qua đó, họ biến những nạn nhân chiến tranh thành những tên tội phạm.
Theo một thỏa thuận lố bịch thì khi nước Mỹ bị tấn công khủng bố vào ngày 11/9/2001 thì các thành viên thuộc NATO cũng coi như bị tấn công, từ đó họ có lý do chính đang để cùng Mỹ mở cuộc tấn công "hợp pháp" vào Afghanistan.
Trong khi đó thì các phương tiện truyền thông lại hoàn toàn im bặt: không tranh luận, không phân tích.
Việc tuyên truyền chiến tranh không chỉ mang lại lợi nhuận quân sự mà còn tạo nên quan điểm của hàng triệu người dân cho rằng Chiến tranh là một Dự án của xã hội. Theo đúng nghĩa đen, nó dập tắt giá trị cơ bản của con người, đó là lòng từ bi, tình yêu và công bằng xã hội và qua đó biến con người thành những Zombie vô ý thức.
Những câu chuyện tưởng tượng về hành tinh Nibiru và điều sấm dự báo ngày tận thế vào tháng 12 năm 2012 có đầy rẫy trên mạng Internet. Cho đến bây giờ (tính từ tháng sáu năm 2009) đã có hơn 175 quyển sách được liệt kê trên trang tìm kiếm Amazon.com về ngày tận thế năm 2012. Như là cuộc chơi khăm thật hoàn mỹ này đã có hiệu quả, rất nhiều những "thiên tai", và cũng không kém những "kịch bản" đang được dựng lên. "Hỏi đáp với nhà sinh vật học Vũ trụ" (Ask an Astrobiologist) đã nhận được gần một ngàn câu hỏi về hành Nibiru và năm 2012, với hơn 200 câu trả lời đã đươc đăng lên. Rất nhiều câu hỏi mới tương tự như vậy cũng đã được trả lời. Sau đây là một danh sách phổ biến nhất "Hai mươi câu hỏi" được cho là hợp lý nhất đã thống kê lại và trả lời rất chi tiết.
Ngoài ra, câu trả lời của tôi, lấy từ một số nguồn web khác.
David Morrison,
Nhà khoa học của viện NAI
Ngày 1 tháng 6, năm 2009
1. Nguồn gốc của dự báo về Ngày tận thế của toàn thế giới vào năm 2012 là gì?
Câu chuyện bắt đầu với các tranh luận về hành tinh Nibiru, một trí tưởng tượng về hành tinh của những người Xume (Sumerian), đó là hành tinh này hướng đầu về phía Trái Đất. Tác giả Zecharia Sitchin, người viết tiểu thuyết về các nền văn minh cổ xưa của người ở vùng đồng bằng Lưỡng Hà của người, có viết một số quyển sách (ví dụ như, The Twelfth Planet (Hành tinh thứ Mười Hai), xuất bản vào năm 1976) mà ông đã được tìm thấy và dịch từ các tài liệu của người Xume vì họ biết về sự có mặt của hành tinh Nibiru, quỹ đạo bay xung quanh Mặt trời là 3600 năm. Những câu chuyện truyền thuyết của người Xume về "những du hành vũ trụ cổ xưa" đã đến viếng thăm Trái đất từ một nền văn minh ngoài vũ trụ gọi là Anunnaki. Sau đó, Nancy Lieder, là người đã tự công khai rằng bà đã liên lạc được với người ngoài hành tinh, và đã viết trên trang web Zetatalk (www.Zetatalk.com) của chính mình rằng các cư dân của hành tinh này quay xung quanh một ngôi sao là Zeta Reticuli đã cảnh báo với cô rằng Trái đất sẽ bị một mối nguy hiểm rình rập từ Hành tinh X (Planet X) hoặc hành tinh Nibiru. Thảm họa này đã được dự đoán là sẽ xảy ra vào tháng 5 năm 2003, nhưng không có gì xảy ra cả và bây giờ là đến tháng 12 năm 2012. Chỉ trong thời gian gần đây khi có hai mẫu truyện rất gắn khít với nhau giữa lịch Long Count (Lịch Đếm Ngày) và Ngày Tận thế của người Maya tại thời điểm Đông Chí vào năm 2012 - dự đoán ngày tận thế vào ngày 21 tháng 12, 2012 đã được dựng lên như thế đấy.
2. Nền văn minh của những người Xume (Sumerian) đã từng có một thời huy hoàng, và họ đã có nhiều dự đoán thiên văn rất chính xác, bao gồm việc họ phát hiện các hành tinh như Thiên Vương Tinh, Hải Vương Tinh và Hải Vương Tinh. Vậy thì tại sao chúng ta lại không tin những dự đoán của họ về hành tinh gọi là Nibiru?
Nibiru là một tên của một nhà Chiêm tinh học người Babylon đôi khi lại còn kết hợp với tên gọi của vị thần Marduk. Nibiru là một phần ký tự nhỏ của người Babylon có trong bài thơ Enuma Elish như đã được ghi trong thư viện Assurbanipal, Vị vua của người Assyri (668-627 Trước Công nguyên). Người Xume (Sumer) đã phồn thịnh từ rất sớm, khoảng từ thế kỷ 23 đến thế kỷ 17 Trước công nguyên. Việc cho rằng về sự có mặt của Nibiru là một hành tinh được biết từ lâu bởi người Xume (Sume) đã mâu thuẫn với một nhà nghiên cứu (không phải Zecharia Sitchin) và đã dịch từ những di tích cổ ở Vùng đồng bằng Lưỡng Hà. Người Xume quả thật họ đã có một nền văn minh thật phát triển, như sụ đóng góp của họ trong việc phát triển nông nghiệp, biết sử dụng nguồn nước, cuộc sống ở thành thị, và đặc biệt là chữ viết của họ. Tuy nhiên, họ vẫn còn biết rất ích về Thiên văn học. Chắc chắn họ không biết về sự tồn tại của Thiên Vương Tinh, Hải Vương Tinh hay Diêm Vương Tinh. Họ cũng không thể biết được quỹ đạo quay của Mặt trời, một ý kiến cho rằng Hy Lạp bắt đầu phát triển trong hai thiên niên kỷ sau khi nền văn minh của người Xume sụp đổ. Còn về việc người Xume đã dự đoán về hành tinh trong vũ trụ, hoặc thậm chí là họ đã có một thần tên Nibiru, đều là một sản phẩm ở trí tưởng tượng của bà Sitchin.
3. Làm thế nào các ngài phủ nhận về hành tinh Nibiru khi NASA đã từng phát hiện ra một hành tinh vào năm 1983 và giới báo chí cũng đề cập đến rất nhiều về chuyện này? Vào lúc đó, các ngài gọi nó là Hành tinh X và sau đó đặt tên là Xena hay hành tinh lùn Eris.
Hành tinh lùn Eris
IRAS (viết tắt của từ NASA Infrared Astronomy Satellite - Vệ tinh Nghiên cứu Thiên văn bằng Tia hồng ngoại của NASA, đã thực hiện một cuộc quan sát vũ trụ rất quy mộ diễn ra trong khoảng 10 tháng vào năm 1983) đã phát hiện ra rất nhiều các tia hồng ngoại, nhưng tất cả đều không phải là của hành tinh Nibiru hoặc Hành tinh X hoặc bất kỳ một vật thể nào năm ngoài Hệ mặt trời. Trong đó, có một kết quả được nhiều người ủng hộ nhất từ Viện Công nghệ California - Caltech - tại trang web (http://spider.ipac.caltech.edu/staff/tchester/iras/no_tenth_planet_yet.html).
Tôi nói tóm tắt lại, IRAS đã đưa ra một danh mục gồm 350.000 nguồn các tia hồng ngoại, và cũng có rất nhiều nguồn tia không được phát hiện (tất cả đều thực hiện chỉ trong một cuộc quan sát). Hầu hết các bức ảnh được chụp và được theo dõi bởi các nghiên cứu từ dưới mặt đất lẫn cả trên không gian. Lời đồn về một "hành tinh thứ mười" nổ ra vào năm 1984 sau khi một bài báo về khoa học xuất bản trong tờ Tạp chí về Vật lý Thiên thể có tiêu đề "Những nguồn tia không được xác định trong lần quan sát qua IRAS", và điều đó đã dẫn đến một cuộc tranh cãi với kết quả là "không có một hành tinh nào cả". Nhưng những "vật thể bí ẩn" đã được tìm thấy trong các thiên hà (ngoại trừ việc phát hiện một đám bụi của một ngôi sao phát ra tia hồng ngoại), như đã được xuất bản vào năm 1987. Không có phát hiện nào của IRAS là của một hành tinh cả. Một cuộc tranh luận rất sôi nổi về toàn bộ vấn đề này tại trang web của Phil Plait (www.badastronomy.com/bad/misc/planetx/science.html#iras). Các bài về hành tinh Nibiru là một chuyện hoang đường, hoàn toàn không có một cơ sở thực tế nào cả. Với một nhà thiên văn học, việc khẳng định về một hành tinh "ở gần", mà "không thể thấy được" thì đúng là ngu ngốc.
4. Có lẽ chúng tôi nên hỏi về Hành tinh X hoặc Hành tinh lùn Eris không phải hỏi về hành tinh Nibiru. Tại sao NASA lại giữ bí mật về quỹ đạo của hành tinh lùn Eris?
"Planet X" là một phép nghịch hợp khi ta đối chiếu với vật thể thực. Thuật ngữ này (Planet X) được dùng cho các nhà thiên văn học qua mọi thế kỷ để gọi về một vật thể có thật hoặc bị hoài ngờ. Sau khi vật thể đó được tìm thấy rõ ràng thì nó được sẽ được đặt một cái tên thật sự, như với Diêm Vương Tinh và hành tinh lùn Eris, trong đó cả hai thiên thể này đều đã từng có thời gian gọi là Planet X (Hành tinh X). Nếu vật thể đó không có thật, hoặc đó không phải là một hành tinh, thì sau đó bạn sẽ không bao giờ nghe về nó một lần nữa. Nếu hành tinh đó có thật, thì nó không còn gọi là Planet X (Hành tinh X) nữa.
Eris là một trong các hành lùn được các nhà thiên văn học tìm thấy gần đây ở bên ngoài Hệ mặt trời, tất cả các quỹ đạo đều bình thường và sẽ không bao giờ lại gần Trái đất. Cũng giống như Diêm Vương Tinh, Eris còn nhỏ hơn mặt trang của chúng ta. Nó ở rất xa, và các quỹ đạo không bao giờ đi lại gần hơn khoảng 4 tỷ dặm. Không có bí mật nào về hành tinh Eris và các quỹ đạo, và bạn có thể dễ dàng xác minh điều này trên Google hay tìm trên Wikipedia.
5. Có phải NASA đã từ chối xây dựng Kính Thiên văn tại Nam Cực (South Pole Telescope) để tìm dấu vết của hành tinh Nibiru? Tại sao họ lại muốn xây dựng một chiếc kính thiên văn tại Nam Cực?
Toàn cảnh của chiếc Kính thiên văn Nam cực (South Pole Telescope) chụp vào năm 2008
Có một chiếc kính thiên văn tại Nam Cực, nhưng đó không phải là của NASA, và không phải dụng để nghiên cứu hành tinh Nibiru. Kính thiên văn Nam Cực đã được hỗ trợ từ Tổ chức Khoa học Quốc gia - NSF (từ viết tắt của National Science Foundation), và đó là một kính viễn vọng vô tuyến, không phải là một công cụ quan học. Nó không thể chụp được hình ảnh. Bạn có thể xem tại trang Wikipedia. Vùng phía Nam cực là một nơi tuyệt vời cho các thiên văn tìm ra tia hồng ngoại và còn chụp đươc các loại sóng vô tuyến, và lợi thế lớn nhất là có thể quan sát được bất cứ lúc nào mà không có sự can thiệp bởi ngày và đêm.
Tôi cần phải nói thêm điều này rằng là nó chỉ có thể quan sát được bầu trời vùng Nam cực. Ngay cả nếu nó được đặt ở phía Nam của Trái đất, nó có thể được quan sát được toàn bộ vùng trời ở bán cầu Nam.
6. Có rất nhiều những hình ảnh và rất nhiều đoạn video về hành tinh Nibiru trên Internet. Thật sự là nó tồn tại?
Một hình ảnh cho là hành tinh Nibiru ẩn sau Mặt trời
Đây là 2 tấm ảnh của Anunaki tại website www.december212012.com
Phía trước
Một lát sau
Hầu hết các bức ảnh và đoạn video trên Internet đều quay xung quanh vấn đề về Mặt Trời của chúng ta (là vì có người cho rằng hành tinh Nibiru đã ẩn đằng sau Mặt trời trong nhiều năm qua). Đây là những hình ảnh thật sự không chính xác về Mặt Trời vì nó gây ra bởi phản xạ bên trong thấu kính, thường được gọi là các vết lóe. Bạn có thể dễ dàng nhận biết được điều này vì bạn sẽ thấy nhiều điểm hoàn toàn khác so với bức ảnh về Mặt trời thật sự, giống như đó là một hình ảnh phản chiếu ở giữa hình vậy. Rõ ràng trong các đoạn video, các camera được di chuyển, hình ảnh sai lệch luôn luôn đối lập với hình ảnh thực. Vết lóe đó nhìn tương tự như các hình ảnh về UFO chụp vào ban đêm và tỏa ra ánh sáng mạnh, như là ánh sáng đèn trên đường phố. Tôi ngạc nhiên vì mọi người không nhận ra hình ảnh này nhìn rất giả tạo. Tôi cũng kinh ngạc vì vết lóe đó nhìn to như Mặt trời của chúng ta (có thể gọi như là "Mặt trời thứ hai") và điều này hơp tác với những câu truyện trên các trang website nói về hành tinh Nibiru được phát hiện thấy trên hình ảnh chụp từ kính thiên văn.
Một trong những bức ảnh chụp từ kính viễn vọng (www.greatdreams.com/nibiru-possible.jpg) có hai hình ảnh một đám mây khí từ rất xa bên ngoài hệ mặt trời, và nó không thể di chuyển, bạn hãy nhìn vào ngôi sao ở cả hai bức ảnh này.
Một người tinh mắt của trang website này đã xác định rằng những hình ảnh này như là một đám khí bao quanh ngôi sao V838 Mon. Wikipedia có một bài viết và một hình ảnh cực đẹp từ kính thiên văn Hubble. Một học sinh trường trung học đã đầu tiên đăng hình ảnh ấn tượng này với một giọt nước màu đỏ mà nhiều người nói đó là hành tinh Nibiru. Sau đó, ông cậu học sinh này bỏ vào Photoshop để biến hình ảnh này thành một hình khác.
Một đoạn video đăng vào mùa hè năm 2008 trên Youtube (www.youtube.com/watch?v=qDKtkWIx00A) là về cảnh quay một người đứng trong nhà bếp khẳng định về một vật thể được phát hiện bởi kính thiên văn tia X của NASA là hành tinh Nibiru. Bằng chứng của ông này là gì? Là màu sắc của tia X phát ra bởi cái kính của NASA là màu xanh, điều này giống như là một hành tinh gần chúng ta có một đại dương màu xanh. Điều này sẽ rất tốt nếu như nó không là cho mọi người cảm thấy lo sợ.
- Mayalàmộtsắcdâncổở miềncực Nam tạiYucanta,Mexico và miền BắcTrung Mỹvớikhoảng3000nămlịch sử. 600 năm trước dương lịch(BC), dân sốcủa họ lên đến 20triệuvới hàng trăm đô thị và thành phố, 200 năm sau đó, chỉ còn 7 triệu.Năm 600 AD, toàn bộ văn minh đó biến mất, chỉ còn lại là một Vuơng Quốc tầm thường. Khi người Spanish đặt chân đến năm 1521, lúc đó họ chỉ còn chừng 1 triệu. Nguyên thủy, người Mayan có một nền siêu văn minh, họ có ký tự, giỏi canh nông, làm kênh đào, điêu khắc, nghệ thuật, đồ gốm, và có thể đã có phi thuyền (xem Phần 3.A). Họ đặc sắc nhất là Kiến trúc, Toán học, và Thiên văn học. Lịch của họ được coi là chính xác nhất trong lịch sử. Họ có thể tiên đoán được động đất, khí hậu, thuỷ triều, nhật thực/nguyệt thực và tiên tri. Một nền văn minh rực rỡ nhất đã biến mất chỉ để lại vài di vật khó giải thích. Ngày nay, người Mayan có khoãng 6 triệu sống rải rácở Trung/Nam Mỹ. Lý do tôi giới thiệu nền văn minh của họ là để các bạn hiểu rõ tính chính xác củaLịch2012của họ. Hiểu sơ qua văn minh của họ thì bạn mới thấy giá trị nó. Mời các bạn tham quan bằng hình ảnh.
Lịch Mayan 2012:
- Người Mayan có 3 loại lịch: Lịch Tôn Giáo, Lịch Dân Sự, và Đại Lịch (Long Count Calendar.) Đại Lịch là cái mà ngày nay chúng ta đang bàn tán vì lịch này chấm dứt vào 21 tháng 12, 2012; có nghĩa là sau đó, không còn ngày tháng gì hết . Họcó nhiều Đại Lịch chứ không phải 1 cái, nó nằm rải rác nhiều nơi và có nhiều kiểu khác nhau.
- Mayan chia Đại lịch ra 5 chu kỳ, mỗi chu kỳ là 5,125 năm (1.872.000 ngày). Khi Địa Cầu đi hết 1 vòng của Dãy Ngân Hà là hoàn tất 5 chu kỳ, gọi là 1 ngày của Ngân Hà. Một ngày Ngân hà là 25,625 năm trái đất.
- Họ chia NGÀY của Ngân Hà như sau: Chu kỳ 1- Buổi Sáng, Chu kỳ 2 – Trưa, Chu kỳ 3 – chiều, Chu kỳ 4 – Nữa Đêm, Chu kỳ 5 – Gần Sáng. Theo Lịch của họ, chúng ta đang tiến đến buổi Bình Minh của Ngày Ngân Hà, Chu kỳ 5.
Chu kỳ 5
Họ bắt đầu là 0.0.0.0.0 với mỗi chu kỳ là 20 ngày
0.0.0.0.19 tức là 19 ngày, 0.0.0.1.0 = 20 ngày
1 Baktun là 144000 ngày = 1.0.0.0.0
13 Baktun là 1,872,000 ngày (144000 x 13) = 13.0.0.0.0
Khi 13 Baktun hoàn tất, họ gọi đó là Đại Chu Kỳ và là Chu kỳ lớn nhất. Hiện giờ, khi viết bài này, ngày của chúng ta là 14/6/2011, theo lịch của họ thì là 12 . 19 . 18 . 8 . 4 (giống IP address ?). Khi đến 13.0.0.0.0 tức là chấm dứt chu kỳ thứ 5, ngày 21/12/2012.
Ngày lịch sử 21/12/2012:
Ngày 21/12/2012, người Mayan đánh dấu sự chấm dứt của chu kỳ 5,116 năm. Vào ngày này, Mặt Trời, Địa Cầu, và Venus sẽ thẳng hàng với Xích Đạo Ngân Hà, chúng ta sẽ bị một ảnh hưỡng rất lớn về vật chất và tâm linh. Đây là hiện tượng chỉ xảy ra 1 lần trong 26,000 năm.
Thái Dương Hệ tiến vào Xích Đạo của Ngân hà:
- Điều làm khoa học hiện đại phải sững sờ đó là làm cách nào lịch của họ lại tính chính xác vào 21/12/2012, Thái Dương Hệ sẽ tiến đúng và thẳng hàng vào quỹ đạo của Ngân Hà. Chúng ta phải cần Vệ Tinh Hubble mới thấy được Ngân Hà, còn họ dùng cái gì? Khoa học vẫn không giải thích đuợc bằng cách nào mà họ thấy được dãy Ngân Hà và tính được chu kỳ 26 ngàn năm.
-Trong cổ thư Ai Cập Book of the Dead (Sách Của Sự Chết) có nói đến một biến cố đã xảy ra ngày 27/7/9792 BC. Họ nói như trục trái đất di chuyễn “Mặt Trời mọc ở chân trời mới.” Nhà học giả Gino Ratinckx đã dùng nhu liệu Thiên Văn để tìm hiểu có bao nhiêu lần giống như năm 9792 BC, lúc trái đất tiến vào Chòm Sao Orion cùng với Venus thẳng hàng với địa cầu. Máy computer đã cho ra chính xác là 6/2012, lúc 1g30.
Mayan 2012:
- Không có một bằng chứng nào trong tất cả cổ thư tìm đuợc của họ nói là sẽ có tận thế vào ngày này, ngược lại họ còn ăn mừng để chào đón một kỷ nguyên mới. Họ chỉ nói về cái chu kỳ cuối kéo dài 5116 năm, khởi đầu từ 13/8/3114 BC và chấm dứt 21/12/2012 AD. - Vậy thì 2012 chỉ là TẬN…LỊCH của người Mayan, còn chúng ta sau đó sẽ…đếm tiếp 2013.
-Tuy nhiên, Cổ thư họ có nói là loài người sẽ đối diện với “Đài Gương Linh Thiêng” và “Hiệp Nhất với Cây Sự Sống”. Họ ghi là bắt đầu từ ngày Nhật Thực 11/8/1999, tức là 13 năm cuối của chu kỳ, “Con người phải tự xét lại mọi việc làm của mình đối với người khác, với thiên nhiên, và hành tinh mình đang sống.” Thời gian để... sám hối?
- Khi ra khỏi chu kỳ cuối của 25 ngàn năm, Thái Dương Hệ trở về chu kỳ khởi đầu của nó, là lúc nó thoát ra bóng đêm của Ngân Hà và được chiếu sáng sau 5,125 năm tối tăm.
- Chuyện gì sẽ xảy ra khi chúng ta gặp lại Tia Sáng bình minh từ nguồn cội của trái đất?
Theo truyền thuyết, Đại hồng thủy là sự trừng phạt của Thần đối với sự suy đồi và độc ác của loài người. Nhiều bằng chứng tìm được gần đây đã cho thấy, các biến cố đó là có thật.
Truyền thuyết về Đại hồng thủy xuất hiện trong rất nhiều nền văn hóa cổ xưa như Lưỡng Hà, Babylon, Trung Hoa, Hy Lạp cổ đại…
“Truyền thuyết” nổi tiếng nhất là trận Đại hồng thủy được ghi trong sách Sáng Thế ký. Thần quyết định xóa sổ loài người vì tội ác của họ, nhưng lại cứu Noah vì ông có đạo đức. Thần đã dạy ông cách đóng một con thuyền lớn để tự cứu mình, một số ít người khác, cùng với các loài động vật.
Một “truyền thuyết” được coi là cổ xưa nhất về Đại hồng thủy được ghi lại trong cuốn sách đá của nền văn minh Lưỡng Hà. Thần Enki đã cảnh báo vua Ziusudra thành Shuruppak (một triều đại cách đây 5.000-6.000 năm, nay thuộc lãnh thổ Iraq) rằng Thượng đế sẽ tiêu diệt loài người bằng một trận lụt ghê gớm. Thần Enki đã mách cho vua Ziusudra cách đóng một con thuyền lớn, nhờ đó Ziusudra đã thoát nạn.
Phần đánh dấu màu vàng đậm trong hình là khu vực Lưỡng Hà xưa kia. Khu vực này là của những nền văn minh sớm nhất mà con người biết đến. Đặc điểm chung của các nền văn minh này là đều xuất hiện đột ngột với trình độ rất cao ngay từ đầu.
Trong “truyền thuyết” Babylon cổ xưa, người anh hùng Gilgamesh thuộc xứ Uruk muốn trở thành bất tử giống như tổ tiên của mình là UtNapishtim. Chính ông đã cảnh báo cho Gilgamesh biết sắp có trận lụt lớn. Gilgamesh đã học được cách đóng một cái tàu lớn để đưa gia đình, bạn bè và tài sản của mình lên đó để tránh Trận Lụt.
Cuốn sách Luật lệ của Plato cũng đã nói về Trận Lụt lớn xuất hiện trước thời của ông khoảng 10.000 năm.
Truyền thuyết Hồ Ba Bể ở Việt Nam cũng liên quan đến đại hồng thủy. Thần Giao Long hóa thân thành một bà lão ăn mày đi dự hội “Vu Già” cầu Phật, do thấy người đời không có lòng nhân từ nên đã dâng nước nhấn chìm tất cả. Chỉ có hai mẹ con người góa phụ cho bà ăn mày ăn ngủ nhờ là được cứu. Thần đưa cho họ 2 vỏ trấu (sau đó biến thành thuyền) và một nắm tro để rải xung quanh ngôi nhà của mình. Khu đất đó không bị chìm trong nước và ngày nay là đảo Po-già-nải ở giữa Hồ Ba Bể.
Những phát hiện khoa học
Các cuộc khai quật ở khu vực nền văn minh Lưỡng Hà (thuộc nước Iraq ngày nay) đã phát hiện nhiều dấu vết như lớp bùn trầm tích, hay các hóa thạch liên quan đến trận đại hồng thủy.
Trong những năm 1920, nhà khảo cổ học người Anh Leonard Wooley trong khi khai quật ở khu vực phía Nam vùng đất Lưỡng Hà (được coi là nơi sinh Abraham, tổ phụ của dân Do Thái) đã phát hiện các vỉa bùn sâu nằm dưới nước. Ngoài ra còn có nhiều dấu vết nhà cửa vật dụng bằng gốm chìm dưới tầng bùn.
Gần đây, các nhà khoa học tìm thấy dấu tích của một chiếc tàu lớn trên một đỉnh núi cao gần 2.000m tại Thổ Nhĩ Kỳ. Họ cho rằng đó là chiếc tàu nổi tiếng của Noah, được ghi chép trong sách Sáng Thế ký.
Như vậy, có thể khẳng định những trận Đại hồng thủy trong quá khứ là có thật.
Các nhà khoa học cũng đưa ra giả thiết về nguyên nhân gây ra chúng. Họ cho rằng vào cuối kỷ Băng hà (kéo dài từ 2,5 triệu năm đến 10.000 năm trước Công nguyên), nhiệt độ của trái đất rất thấp. Băng hà bao phủ toàn bộ bắc bán cầu. Sau đó, những khối băng cực lớn bắt đầu di chuyển, khối lượng ước chừng 30 triệu km2. Những núi băng khổng lồ đè nặng lên vỏ trái đất gây lún sụt ở nơi này và trồi lên ở nơi khác, tạo ra những vùng đất như Scandinavia, Scotland, Canada… Khi đó, mực nước biển rất thấp (thấp hơn hiện nay 120-150 m); châu Á và Bắc Mỹ nối liền nhau qua eo biển Bering. Thời kỳ cuối cùng của kỷ Băng hà cách đây 10.000 năm, khí hậu trái đất nóng lên làm băng tan và mực nước biển dâng nhanh là nguyên nhân gây ra Đại hồng thủy nhấn chìm nhiều vùng đất.
Gần đây các nhà khoa học đã khám phá những đại dương ngầm khổng lồ nằm ẩn sâu hơn 1.000 km dưới bề mặt trái đất, và họ cho rằng đây chính là nguyên do gây nạn Đại hồng thủy trong các “truyền thuyết” ấy. Các khảo sát sử dụng sóng địa chấn cho thấy có ít nhất hai đại dương ngầm bên dưới bề mặt lục địa Âu – Á và đại lục Bắc Mỹ.
Các nhà khoa học Mỹ tin rằng các đại dương ngầm có lượng nước không kém hai đại dương vùng cực. Vì một lý do nào đó (động đất, chuyển động vỏ trái đất…), lượng nước khổng lồ này đã phun trào lên mặt đất. Hơi nước bốc lên cao gặp khí lạnh ngưng tụ thành những đợt mưa dài ngày, gây ra Đại hồng thủy và sau đó lại ngấm xuống các đại dương bên trong lòng đất.
Vào năm 1959, Llhan Durupinar, lúc ấy đang là một viên đại úy quân đội Thổ Nhĩ Kỳ, đã khám phá ra một hình thù bất thường trong khi đang kiểm tra các bức ảnh chụp từ trên không. Vật thể này lớn hơn một sân bóng đá, nổi bật lên khỏi địa hình đồi núi mấp mô ở độ cao gần 2.000m thuộc dãy núi Ararat, gần biên giới Iran – Thổ Nhĩ Kỳ.
Tọa độ con tàu: 39 26’ 26.09″ Bắc, 44 14’ 04.29″ Đông
Con tàu nằm giữa một dòng bùn cổ (Ảnh chụp năm 1959)
Đây là một khu vực xa xôi hẻo lánh, chỉ có dân cư của một số ngôi làng nhỏ sinh sống tại đây. Trước đó chưa hề có báo cáo nào về vật thể kỳ lạ này. Vì vậy đại úy Llhan Durupinar đã chuyển âm bản của bức hình cho chuyên gia chụp ảnh trên không là tiến sỹ Brandenburger, thuộc Trường đại học bang Ohio nước Mỹ. Sau khi nghiên cứu bức ảnh chụp của đại úy Llhan Durupinar, Brandenburger kết luận: “Tôi chắc chắn, rằng vật thể này là một con tàu. Trong toàn bộ sự nghiệp của mình, tôi chưa từng trông thấy vật thể nào như cái này…”.
Vào năm 1960, bức ảnh phía trên đã được xuất bản trong tạp chí LIFE trong bài viết tựa đề “Có phải tàu Noah?“. Cũng trong năm đó một nhóm nghiên cứu người Mỹ đã đi theo đại úy Llhan Durupinar đến địa điểm trong tấm hình. Họ trông đợi sẽ tìm được những cổ vật hay cái gì đó mà có thể chứng minh vật thể lạ kia đúng thật là một con tàu. Sau hơn 1 ngày đào bới trong khu vực mà không tìm được, họ tuyên bố rằng vật thể lạ có vẻ chỉ là một kiến tạo tự nhiên. Câu chuyện nhanh chóng chìm vào quên lãng.
Vào năm 1977, Ron Wyatt tới viếng thăm địa điểm này. Được chính quyền địa phương cho phép, Ron và những người khác đã nghiên cứu kỹ lưỡng khu vực này trong nhiều năm. Họ sử dụng máy dò kim loại, máy quét radar ngầm, tiến hành thăm dò cẩn thận, thực hiện các phân tích hóa học, vv… Những kết quả thu được hoàn toàn xứng đáng với tâm sức mà họ đã bỏ ra. Những khám phá của họ đã làm chấn động Thổ Nhĩ Kỳ khi đó. Vật thể lạ quả thực là một con tàu cực kỳ cổ xưa. Đó là một con tàu rất lớn, thuộc “thời tiền sử”, tại sườn núi ở độ cao 2.000m trên mực nước biển,… và không chỉ có thế.
Bằng chứng trực quan
Phần đầu tiên của cuộc nghiên cứu là kiểm tra vật thể và đo các kích thước của nó. Vật thể trông giống phần thân của một con tàu lớn. Một đầu nhọn là mũi tàu, đầu kia bo lại – đuôi tàu. Khoảng cách từ mũi đến đuôi là gần 160m (chính xác 300 cubit Ai Cập).
Vị trí hóa thạch Noah tại Thổ Nhĩ Kỳ
Trên mạn phải của con tàu, gần đuôi (điểm B) có 4 thanh lồi ra khỏi phần đất bùn, cách đều nhau, đã được xác định là các sườn khung của thân tàu. Đối diện với chúng, ở bên mạn trái, có một thanh sườn cũng lồi ra khỏi đất bùn (điểm A). Chúng ta có thể dễ dàng nhìn thấy dáng cong của nó. Xung quanh đó là rất nhiều sườn khác, phần lớn vẫn chôn vùi trong đất, nhưng kiểm tra kỹ đều có thể thấy được.
Gỗ của con tàu đã bị hóa thạch. Các chất hữu cơ đều đã bị thay thế bằng khoáng chất, chỉ còn lại hình thù và dấu vết của các thanh sườn tàu. Có lẽ đó là nguyên nhân tại sao cuộc khảo sát năm 1960 đã không có kết quả, bởi tại những chỗ mà họ tìm kiếm, gỗ đều đã hóa thạch và xói mòn từ rất lâu trước đó.
Dấu vết những thanh sườn gỗ hóa thạch bên mạn tàu
Con tàu này nằm giữa một dòng bùn khô. Căn cứ theo vị trí của con tàu và dòng bùn, có thể thấy rõ vật thể này đã bị cuốn trôi cùng dòng chảy của bùn, ra cách xa khỏi vị trí ban đầu của nó khoảng 1,6 km. Các nhà địa chất học tin rằng ban đầu con tàu này nằm ở vị trí cao hơn chỗ hiện tại khoảng 300m, và bị bao bọc trong một lớp bùn cứng hơn. Họ cho rằng một trận động đất hồi năm 1948 đã phá vỡ lớp vỏ bùn cứng ấy và làm con tàu lộ ra. Điều này cũng được dân làng xung quanh đó xác nhận.
Phân tích tàn tích của con tàu, sử dụng các phương tiện khác nhau, người ta xác định con tàu ban đầu có cấu trúc khá phức tạp, với các kích thước cụ thể ghi trong hình:
Radar xuyên đất
Mắt người chỉ nhìn được vật thể nhờ ánh sáng phản chiếu của nó. Để nhận ra những vật thể nằm bên dưới mặt đất, các nhà khoa học sử dụng sóng siêu âm xuyên qua mặt đất. Kỹ thuật này thường được dùng để xác định vị trí dầu mỏ và các khoáng chất khác. Thiết bị để làm việc này được gọi là Radar xuyên đất (máy GPR).
Đội các nhà địa chất đánh dấu các dải băng màu vàng dọc theo vật thể. Sau đó họ rà quét theo các đường này để thu thập dữ liệu và phân tích. Sau khi phân tích toàn bộ, họ đã lập ra được bản đồ của vật thể cùng với những gì đang nằm bên dưới mặt đất. Và kết quả là đây:
Radar ngầm đã giúp xác định rõ các cấu trúc bên dưới mặt đất. Chúng hoàn toàn đối xứng và có bố cục rất hợp lý
“Dữ liệu này không tương ứng với kiến tạo địa chất tự nhiên. Chúng là những cấu trúc nhân tạo…”- Ron Wyatt cho biết.
Radar cũng cho thấy nhiều cấu trúc cây gỗ bên trong thân tàu. Các phân tích đã xác định chúng là những thanh gỗ sống tàu, sống phụ, mép tàu, các buồng ở, các buồng động vật, hệ thống thang (con tàu có 3 tầng), cánh cửa phía mũi mạn phải, 2 cái thùng lớn ở gần mũi tàu kích thước 14 x 24 inch, và một giếng trời nhỏ ở khu vực chính giữa con tàu để thông khí cho toàn bộ 3 tầng của con tàu tiền sử vĩ đại này.
Các hiện vật
Sử dụng máy Radar xuyên đất, Ron Wyatt đã khám phá ra một khoang trống ở bên mạn phải của con tàu. Ông khoan vào bên trong khoang trống này để lấy mẫu và đã thu được những thứ rất thú vị.
Trái: lỗ khoan dò. Phải: phân động vật hóa thạch
Trái: gạc hươu hóa thạch. Phải: một chùm lông mèo
Có lẽ khám phá quan trọng và đáng kinh ngạc nhất thu được từ hiện trường là một miếng gỗ đã hóa thạch. Khi mới được tìm thấy, người ta tưởng rằng đó là một miếng gỗ đơn thuần của sàn tàu. Nhưng khi kiểm tra kỹ lưỡng hơn, nó hóa ra gồm 3 tấm ván khác nhau, được cán mỏng sau đó gắn chặt với nhau bằng một loại keo dán hữu cơ. Nó rất giống với cách chế tạo gỗ dán của chúng ta ngày nay! Gỗ dán có sức bền lớn hơn nhiều so với gỗ thường. Điều này chứng tỏ người cổ xưa có trình độ công nghệ rất cao.
Trái: Các kiểm tra do phòng thí nghiệm Galbraith Labs tại Knoxville, Tennessee, Mỹ thực hiện, cho thấy mẫu gỗ hóa thạch chứa 0,7% carbon hữu cơ. Phải: Bên trong mẫu gỗ dán cực kỳ cổ xưa đã hóa thạch này, người ta tìm thấy dấu vết của những cây đinh sắt
Kiểm tra cho thấy phần keo dán rỉ ra từ các lớp gỗ. Bề ngoài của mẫu vật từng được phủ một lớp nhựa đường, cũng đã hóa thạch.
Điều thậm chí còn đáng kinh ngạc hơn nữa, là người ta tìm thấy dấu vết của những cây đinh sắt bên trong mẫu gỗ dán cực kỳ cổ xưa đã hóa thạch này.
Trong sách Genesis 6:14, Thần bảo Noah “hãy tự đóng một con tàu bằng gỗ gopher”.
Từ “Gỗ gopher” này thực ra là lỗi dịch sai, đúng ra phải là “gỗ kopher”. Kopher nghĩa là nhựa đường, “gỗ kopher” nghĩa là gỗ được phủ nhựa đường.
Ký tự tương đương với “g” và “k” trong tiếng Do Thái cổ
Nguyên nhân là khi người ta dịch Genesis từ văn bản tiếng Do Thái cổ sang tiếng Anh, thì họ đã bị lẫn lộn giữa ký tự G và ký tự K, vốn có cách viết rất giống nhau trong tiếng Do Thái. Thực ra bản Bible tiếng Anh, phiên bản King James, có nhiều lỗi dịch sai tương tự như thế. Ví dụ: Acts 7:45 , Hebrews 4:8,… Đáng chú ý là nhiều phiên bản Bible các thứ tiếng khác lại dịch từ tiếng Anh ra, cho nên lỗi hiểu sai và dịch sai còn phổ biến hơn nhiều.
Chúng ta thường bị dạy một cách quá bài bản rằng loài người trải qua “thời kỳ đồ đá”, “thời kỳ đồ sắt”, vv… Người ta xếp “thời kỳ đồ sắt” vào khoảng hơn 3.000 năm trước đây. Tuy nhiên, ở đây chúng ta có những cây đinh sắt, cắm bên trong một tấm gỗ dán đã hóa thạch, của một con tàu khổng lồ thời tiền sử.
Mẫu vật đáng kinh ngạc nhất đã được khám phá nhờ các máy dò kim loại. Đội nghiên cứu đã xác định được một số vị trí mà ở đó có tín hiệu mạnh nhất. Sau khi đào lên, họ đã tìm thấy những cái đinh tán lớn có hình đĩa. Quan sát, chúng ta đều có thể thấy chỗ mà những đinh tán này đã được gõ bẹt đầu sau khi xỏ xuyên qua lỗ.
Chiếc đinh tán cắm ngập vào phần thân gỗ hóa thạch. Kết quả phân tích cho thấy nó được làm bằng một loại hợp kim mà thành phần có chứa cả nhôm
Người ta tiến hành phân tích để tìm hiểu xem kim loại gì đã được sử dụng để làm ra những cái đinh tán đó. Kết quả là: nó có chứa sắt (8.38%), nhôm (8.35%) và titan (1.59%). Nhưng đó chỉ là phần kim loại chưa bị rỉ sét hẳn, cho nên thành phần nguyên thủy ban đầu của thứ hợp kim kỳ lạ này chính xác gồm những gì vẫn còn là bí ẩn.
Sách giáo khoa nói rằng trong tự nhiên nhôm không tồn tại ở dạng kim loại, rằng đến cuối thế kỷ 19 người ta mới sản xuất được nhôm vì việc này đòi hỏi công nghệ luyện kim và kỹ thuật rất cao. Hợp kim Sắt-Nhôm tạo ra lớp nhôm ôxit mỏng có khả năng chống rỉ và ăn mòn rất tốt. Thành phần titan giúp hợp kim bền vững hơn. Có lẽ nhờ vậy mà những chiếc đinh tán còn tồn tại được đến tận ngày nay mà chưa bị rỉ nát.
Tàu Noah bị lãng quên từ bao giờ?
Cách con tàu vài km, người ta tìm thấy nhiều khối đá rất lớn, một số dựng đứng trong khi số khác nằm ngã trên mặt đất. Những khối đá này nặng nhiều tấn, có lỗ xuyên qua. Các nhà nghiên cứu đã xác định rõ rằng chúng là những cái neo, còn những cái lỗ là để buộc dây thừng.
Những khối đá neo này thường có nhiều dấu khắc chữ thập. Những dấu khắc hình chữ thập trên những khối đá này là do những người hành hương từ thời Trung cổ tới đây để được chiêm ngưỡng con tàu huyền thoại. Thực ra, con tàu này đã nổi tiếng ngay từ thời Trung cổ, thậm chí là từ trước đó nữa. Địa điểm của con tàu này đã được ghi lại trong nhiều tài liệu lịch sử khác nhau.
Sử thi Gilgamesh (niên đại ít nhất 2660 năm trước) nói rằng đỉnh núi Nisir là nơi an nghỉ của con tàu huyền thoại. Địa điểm trong thực tế tên là Nasar.
Cổ thư Houd Sura 11:44 (thuộc bộ sách Koran) ghi: “Một giọng nói cất lên: “Đất hãy rút nước của ngươi. Trời hãy ngừng mưa của ngươi”. Hồng Thủy dịu đi và ý chí của Allah đã được thực hiện. Con tàu đến an nghỉ trên ngọn Al-Judi, và nghe thấy một giọng nói: “Những kẻ xấu ác đều đã chết“ “. Chính xác. Ngọn Al-Judi chính là nơi ban đầu con tàu nằm, trước khi bị dòng bùn cổ cuốn trôi xuống vị trí hiện nay.
Cổ thư Genesis 8:4-5 (thuộc bộ sách Bible) ghi: “Và con tàu yên nghỉ vào tháng thứ 7, ngày 17 tháng ấy, trên dãy núi Ararat. Và nước rút liên tục cho đến tháng thứ 10: vào tháng thứ 10, ngày đầu tiên tháng ấy, [con tàu] được trông thấy trên đỉnh của các ngọn núi ấy”. (chính xác)
Biên niên sử Ashurnasurpal II của Assyria (833-859 trước công nguyên) nói con tàu nằm lại ở phía nam của dòng sông Zab. (chính xác)
Cuốn Theophilus của Antioch (115-185) nói rằng vào thời của ông người ta có thể trông thấy được con tàu trong những ngọn núi của người Arab. (chính xác)
Vào thế kỷ 13, một du khách tên là Willam đã nói rằng ngọn núi Masis là vị trí mà con tàu nằm lại. Chính xác, ngày nay ngọn núi này có tên là Ararat.
Cuốn Geographia của Ptolemy (1548) nói dãy núi Armenia là vị trí của con tàu. Du khách Nicolas de Nicolay (1558) cũng nói như vậy. (chính xác)
Không phải ngẫu nhiên mà các nền văn minh cổ đại như Ai Cập, Babylonia, Lưỡng Hà, Sumeria, Peru, Ấn Độ, Trung Quốc, Nga, châu Mỹ, xứ Wales, Hawaii, Scandinavia, Sumatra, Polynesia, vv… tất cả đều có các phiên bản riêng của họ về một trận Đại Hồng Thủy cực lớn toàn cầu. Thống kê cho thấy toàn thế giới có khoảng 2.000 “truyền thuyết” như vậy. Dưới đây là phân tích sơ bộ một phần nhỏ trong số này.
Bảng phân tích nội dung các câu chuyện Đại Hồng Thủy khắp toàn cầu (35/~2000). Phần lớn các câu chuyện đều cho biết đại ý rằng: Đại Hồng Thủy là do Thần tạo ra để hủy diệt loài người vì nhân loại thời kỳ đó đã không còn lương tâm đạo đức, không còn xứng làm người. Nhấn vào hình ảnh để phóng lớn.
Báu vật quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ
Ron Wyatt và đằng sau là tàn tích hóa thạch của con tàu Noah “huyền thoại”. Địa điểm tại độ cao 2.000m trên mực nước biển thuộc dãy núi Ararat này đã trở thành Công viên Quốc gia Noah’s Ark – Báu vật quốc gia của Thổ Nhĩ Kỳ
Tờ báo lớn nhất Thổ Nhĩ Kỳ: Chính phủ xác nhận: “Đây là tàu Noah”
Chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ công nhận
Vào ngày 20/6/1987, Thống đốc tỉnh Agri của Thổ Nhĩ Kỳ tuyên bố với thế giới rằng: Bộ Ngoại giao, Bộ Nội vụ, các nhà nghiên cứu thuộc trường Đại học Ataturk, cơ quan khảo cổ Thổ Nhĩ Kỳ… đã công nhận khám phá của nhóm thám hiểm Ron Wyatt. Chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ đã công nhận vật thể hình chiếc tàu trên ngọn núi Ararat tại độ cao 2.000m so với mực nước biển ấy là con tàu của Noah. Khu vực này trở thành công viên quốc gia, báu vật quốc gia của họ.
Đây là một trong những phát hiện lịch sử học và khảo cổ học vĩ đại nhất, cho thấy Đại Hồng Thủy là sự thật. Nó đã được công nhận từ 24 năm trước. Nhưng, tại sao sự kiện này bị phớt lờ và hầu như không có phương tiện truyền thông đại chúng nào của thế giới dám nhắc đến? Ai đã buộc họ phải im lặng? Câu hỏi này thực ra còn bí ẩn hơn bản thân con tàu “huyền thoại” ấy.